Thương lái trục lợi trên mồ hôi nhà nông VN

Image caption Việt Nam luôn đứng sau Thái Lan về xuất khẩu gạo do chất lượng không đồng đều.

Theo lộ trình cam kết khi VN gia nhập WTO, năm 2011 là năm Việt Nam phải mở cửa thị trường gạo theo đó công ty nước ngoài có thể vào kinh doanh và trực tiếp xuất khẩu, thay vì phải liên doanh nhập khẩu từ doanh nghiệp quốc doanh của Việt Nam như trước.

Truyền thông tại Việt Nam trích dẫn Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Trương Thanh Phong, cảnh báo điều ông mô tả là 2011 là năm đầy khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước.

Tuy nhiên GS-TS Võ Tòng Xuân từ Đại học An Giang hoanh nghênh diễn biến mới này vì ông mô tả rằng người hưởng lợi chính là nhà nông, đối tượng bị thiệt thòi bấy lâu nay.

GS-TS Võ Tòng Xuân: Theo tôi việc mở cửa thị trường gạo cho các công ty nước ngoài vào tham gia kinh doanh xuất khẩu gạo trực tiếp tại Việt Nam là có lợi. Các công ty Việt Nam phải sớm từ bỏ cách làm ăn xổi ở thì, chỉ làm hại cho nông dân. Tổng Công ty Lương thực (Vinafood) cũng như các thành viên thuộc Hiệp hội Lương thực Việt Nam họ không có tạo nguồn nguyên liệu của họ mà chỉ sử dụng các thương lái, mà thương lái thì lại ép giá, lợi dụng nông dân. Do đó gạo xuất khẩu bị tạp nham, đủ các loại giống, trộn vào với nhau nên khi xuất thì không có thương hiệu. Đồng thời làm cho danh tiếng gạo Việt Nam bị mai một.

Các công ty nước ngoài vào có nghĩa là sẽ giúp cho nhà nông trồng lúa có thị trường ổn định hơn, và khi họ vào thì họ sẽ tổ chức sản xuất, họ có nguồn nguyên liệu của họ. Họ sẽ ký hợp đồng cụ thể với nhà nông để trồng và chế biến một giống chứ không phải nhiều giống và như vậy thì nhà nông sẽ làm ra loại gạo tốt hơn. Tốt cho nhà nông và giúp cho gạo Việt Nam từ từ có uy tín trên thế giới. Đồng thời cũng tạo ra công bình cho các tỉnh có nông dân trồng lúa.

BBC: Ông có thể nói rõ hơn việc công ty nước ngoài vào tham gia xuất khẩu gạo trực tiếp sẽ tạo thị trường ổn định cho nhà nông?

Image caption GS-TS Võ Tòng Xuân, một trong những nhà khoa học về lúa hàng đầu của VN.

GS-TS Võ Tòng Xuân: Các công ty nước ngoài họ luôn luôn có đầu ra ổn định, thị trường ổn định. Họ biết khách hàng của họ là ai và nhu cầu là bao nhiêu. Từ đó họ mới ký hợp đồng với phía nhà nông Việt Nam làm cụ thể. Còn doanh nghiệp Việt Nam thì không biết cái đó. Họ bị lệ thuộc vào Vinafood, tổng công ty này thì lo cấu kết với các tổng công ty lương thực các nước như Philippines, Indonesia, Malaysia...và lượng đưa từ Vinafood xuống các công ty nhỏ tại Việt Nam không ổn định. Khi Vinafood không có đầu ra ổn định thì những khó khăn đó sẽ bị đẩy xuống để nhà nông chịu. Còn công ty nước ngoài họ biết rõ tháng từng tháng cần bao nhiêu tấn và có hợp đồng cụ thể với người nông dân Việt Nam.

Khi nhà nông thu hoạch nhiều thì thường là Vinafood sẽ yêu cầu nhà nước là chỉ đạo tạm ngừng xuất khẩu và chỉ có Vinafood và một số các công ty thành viên của Vinafood mua gạo của nông dân với giá rất bèo. Nông dân bắt buộc phải bán chứ không thì cũng kẹt. Và khi đã qua giai đoạn này rồi, tức là khi hết lúa rồi, thì giá lúa lên, và cũng là lúc nông dân hết lúa. Thì lúc đó những người mua lúa lúc tạm cấm xuất khẩu sẽ hưởng lợi, và cái lợi này là trục lợi trên sự đau khổ của người nông dân.

Hiện tại có nhiều công ty Việt Nam kinh doanh xuất khẩu gạo hoặc thương lái họ không có đất, không có nông dân, họ chỉ có miệng lưỡi của họ thôi. Họ tìm dùng đủ mọi mánh lới để có thể xuất khẩu được gạo và ăn lời trên mồ hôi nước mắt của người nông dân. Việc các công ty nước ngoài vào sẽ kích thích nhu cầu làm ăn chân chính, có kỹ thuật.