Phá bỏ 'nghẽn' nhân lực theo nguyên tắc thị trường

Việt Nam Bản quyền hình ảnh HOANG DINH NAM/AFP
Image caption Bài toán nhân lực ở Việt Nam đang bị 'tắc nghẽn' cả về nghĩa đen lẫn, nghĩa bóng, theo thác giả.

Các nhà hoạch định và nghiên cứu chính sách đều thừa nhận 'nghẽn nhân lực là một trong ba điểm nghẽn của nền kinh tế, đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và cản trở phát triển đất nước.

Các phát ngôn ấn tượng, được giật tít trên các báo nhà nước, gần đây đã phần nào diễn tả thực trạng này: 'Việt Nam chưa giàu đã già', '23 người Việt Nam mới làm bằng một lao động Singapore', 'không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ngày càng phình to', '30% công chức sang cắp ô đi tối cắp về', 'Trên bảo dưới không nghe', 'Cả họ làm quan'…

Không hẳn là báo chí đã 'cởi mở hơn', mà tình hình đang rất cấp thiết, không phản ánh sẽ mất niềm tin.

Tại hội nghị bàn tròn 'Thủ tướng chính phủ với mạng lưới chuyên gia toàn cầu về phát triển Việt Nam' ngày 13/12/2016 tại Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Phúc nhận định quá trình phát triển đang bộc lộ nhiều điểm yếu và nhấn mạnh muốn nghe những ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong và ngoài nước, đặc biệt là trong lĩnh vực thể chế và chính sách, trong đó có chủ đề "phá bỏ điểm nghẽn tăng trưởng và kiến tạo phát triển…"

Nhân lực Việt Nam đang 'nghẽn', cả nghĩa đen và nghĩa bóng', cần phải phá bỏ, là điều đã được giới chuyên gia nhận định.

Dân số đông, hiệu suất lao động thấp

Việt Nam hiện có khoảng 92 triệu dân, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trên 55 triệu người, tổng sản phẩm quốc dân GDP trên đầu người năm 2016 là khoảng 48,6 triệu đồng, tương đương USD 2.215 (chỉ tiêu này của Singapore là USD 61.567).

Hơn thế, Việt Nam đang tụt hậu: Năm 2015, năng suất lao động theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% của Singapore. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) một lao động Singapore có năng suất bằng 23 người Việt, năm trước đó, 2014 là 16 và năm 2013 là 15. Năng suất lao động Việt Nam đang giảm tương đối. Nếu giữ tốc độ tăng như hiện nay, phải mất hơn 60 năm, Việt Nam mới đuổi kịp được Singapore.

Quy mô dân số lớn, đất nước nghèo nàn, lạc hậu là thách thức lâu dài. Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã được tăng cường, góp phần giảm tốc độ tăng dân số, tạo cơ cấu 'vàng'… Khó khăn về kinh tế khiến Việt Nam không thể sử dụng lợi thế dân số 'vàng' hiện nay cho phát triển.

Từ đó, các vấn đề bức xúc phát sinh như, di dân vào đô thị làm quá tải cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế, điện nước, sân bay, gây tắc nghẽn giao thông trầm trọng, báo động ô nhiễm môi trường sống.

Một trong các nguyên nhân quan trọng là sự quản lý xã hội yếu kém. Mới đây, Thủ tướng Phúc đã rất 'bức xúc' về quy hoạch và cấp phép xây dựng các cao ốc 50 tầng ở trung tâm các thành phố Hà Nội.

Giàu, nghèo và bất công

Bản quyền hình ảnh HOANG DINH NAM/AFP
Image caption Khoảng cách giàu nghèo gia tăng tiếp tục là bài toán kinh tế và xã hội đau đầu ở Việt Nam, theo giới quan sát.

Các số liệu cho thấy chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng về kinh tế, cơ hội giữa các nhóm dân cư đang gia tăng.

Tổng tài sản của 500 người giàu nhất năm 2016 trên sàn chứng khoán Việt Nam là hơn 167.483 tỷ đồng, tương đương hơn 7,3 tỷ USD, trong đó 10 người giàu nhất chiếm 58,20% tổng giá trị tài sản. Phần lớn trong số họ giàu lên nhanh chóng từ bất động sản và chứng khoán. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng phát biểu rằng định giá đất sai là căn nguyên tham nhũng.

Những con số ấn tượng từ Báo cáo của Oxfam ngày 12/1/2017 cho thấy ở Việt Nam người giàu nhất trong 1 ngày có thể kiếm được số tiền cao hơn số tiền người nghèo nhất kiếm trong cả 10 năm, hay thu nhập trong 1 năm của nhóm 210 người siêu giàu dư sức để đưa 3,2 triệu người thoát nghèo cùng cực trên cả nước.

Kết quả cuộc khảo sát PAPI 2015 (Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) chỉ ra đói nghèo là vấn đề đáng quan ngại nhất, sau đó mới đến việc làm, giao thông, tham nhũng...

Nguyên nhân chính là những thành tựu từ tăng trưởng kinh tế không được phân bổ công bằng và bình đẳng cho mọi người, chia xã hội thành hai nhóm: người thắng cuộc và người thua cuộc.

Ngoài ra, tham nhũng cũng ảnh hưởng tiêu cực, gây ra tình trạng đói nghèo và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, tạo ra những rào cản lớn cho người nghèo khi tiếp cận các dịch vụ công, cơ hội giáo dục - đào tạo và công ăn việc làm.

Cần lưu ý, các đại gia, 'các nhà tư bản đỏ' luôn được bảo trợ bởi 'lợi ích nhóm', khi họ vươn đến một tầm nào đấy, có xu hướng 'coi thường' chính quyền, 'tham nhũng chính sách', lách luật 'đúng quy trình'. Điều đó sẽ phương hại cho phát triến thị trường, khiến cho khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng gia tăng.

Nhà nước phình to, thị trường chia cắt

Theo số liệu thống kê, trong tổng 55 triệu lao động cả nước, trong đó gần 70% ở nông thôn, tỷ lệ lao động làm 'nông lâm nghiệp, thủy sản' chiếm trên 42%, làm 'công nghiệp' - 24%, còn lại là làm 'dịch vụ'; số người được qua đào tạo từ trình độ "Sơ cấp nghề" trở lên chỉ khoảng 10,8 triệu người, chiếm 20,3% tổng số lao động có việc làm; thu nhập thấp, khoảng trên 4,8 triệu/tháng; tỷ lệ thất nghiệp và thời gian nhàn rỗi cao; trong đó đặc biệt thanh niên chiếm trên 70% tổng số thất nghiệp, trong đó có hàng trăm nghin cử nhân, cao học.

Thị trường lao động ở Việt Nam vốn đã lạc hậu, song điều đáng lưu ý là nhân lực khu vực công tách biệt một cách duy ý chí, thành bộ phận riêng đối lập, triệt tiêu tính đồng bộ của các loại thị trường, cản trở quá trình đổi mới.

Bản quyền hình ảnh AFP
Image caption Đội ngũ công chức của Việt Nam hiện nay chỉ có khoảng 30% là đáp ứng được nhu cầu công việc, theo một phát biểu từ trước của ông Nguyễn Xuân Phúc.

Nhân lực khu vực công, chưa bao gồm lực lượng vũ trang, chiếm trên 10% lực lượng lao động của cả nước, chủ yếu là các công chức, viên chức của bộ máy chính quyền, các cán bộ của đảng (khoảng 2,8 triệu), và các tổ chức chính trị, như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ… và các nhân sự của một số tổ chức khác với mạng lưới rộng khắp cả nước, từ trung ương đến địa phương…

Ngoài ra, bộ phận này còn bao gồm số 'viên chức' trong nhiều đơn vị sự nghiệp công lập, như các viện nghiên cứu, các cơ sở y tế, giáo dục, truyền thông, văn hóa, nghệ thuật… và một số nhân sự quản lý các doanh nghiệp nhà nước.

Số nhân lực trên và đối tượng về hưu, ước tính khoảng 11 triệu đều hưởng lương từ ngân sách nhà nước, trong đó chi thường xuyên, hiện chiếm 70%. Riêng chi cho các tổ chức do đảng quản lý hàng năm lên đến trên 68 nghìn tỷ đồng.

Khi còn ở cương vị Phó thủ tướng Chính phủ, ông Nguyễn Xuân Phúc nói: 'Đội ngũ công chức của chúng ta hiện nay chỉ có khoảng 30% là đáp ứng được nhu cầu công việc'. Tôi bổ sung thêm là 30% nữa là "sáng cắp ô đi, tối cắp ô về".

Hơn thế, tình trạng quan liêu, sách nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ trong số 2,8 triệu cán bộ, công chức này.

Nghị quyết 4 khóa 12 Đảng CS nhận định rằng tình hình suy thoái về 'tư tưởng', đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, lãnh đạo đã đến mức báo động.

Tháo gỡ căn bản, nguyên tắc thị trường

Đảng và chính phủ đã và đang có các động thái mạnh trước tính cấp bách của tình hình.

Ngày 17 tháng 04 năm 2015 Đảng CS Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, và được Chính phủ, các bộ ngành, các tỉnh triển khai thực hiện bằng các quyết định, kế hoạch…

Mới đây, ngày 9 tháng 1 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 02/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, trong đó nêu rõ, từ nay đến năm 2021, mỗi năm Bộ, ngành, địa phương thực hiện giảm 1,5 đến 2% biên chế công chức, biên chế sự nghiệp được giao năm 2015…

Bản quyền hình ảnh FB Pham Quy Tho
Image caption Để tháo gỡ 'nghẽn nhân lực, trước mắt, cần thực hiện chủ trương là 'Hội đoàn thể thành lập trên cơ sở tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động', theo PGS. TS Phạm Quý Thọ.

Tuy nhiên các quyết định, chỉ thị như trên là hành chính, duy ý chí chỉ có thể giải quyết tình thế, kết quả nhất thời, chứ không thể hướng tới hiệu quả dài hạn là bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng.

Để tháo gỡ 'nghẽn nhân lực, trước mắt, cần thực hiện chủ trương là 'Hội đoàn thể thành lập trên cơ sở tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động', mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định. Như vậy hoạt động của hội mới đáp ứng nhu cầu của người dân, phục vụ dân, phù hợp với nguyên tắc thị trường.

Về bản chất, cần cải cách thể chế dựa trên nguyên tắc thị trường, trong đó con người luôn có động cơ tư lợi duy lý thúc đẩy, họ muốn thu lợi cho mình, sẽ được dẫn dắt bởi 'bàn tay vô hình' để làm việc vì lợi ích của người khác. Trong thực tiễn, thể chế 'bàn tay vô hình' của thị trường luôn được bổ sung bằng những ràng buộc, quy tắc về ý thức nghề nghiệp, danh dự từ hoạt động theo đuổi tư lợi lâu dài.

Khẩu hiệu 'làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu' là 'mong muốn tốt đẹp' của CNXH, theo đó là một thể chế được thiết kế để cải tạo con người làm việc quên mình vì người khác, vì tập thể xuất phát từ lòng vị tha thuần túy, luôn đẩy con người giữa hai thái cực: hoặc là làm việc thụ động, đối phó, hoặc sẽ bị cưỡng bức, vì vậy, hậu quả là triệt tiêu động lực làm việc, làm cho năng suất lao động thấp và nghèo đói, con người ỷ nại, dựa dẫm.

Trong thể chế này con người luôn được chỉ bảo, được phép làm điều này điều kia. Mỗi khi cá nhân, hoặc tập thể nào đó hoàn thành nhiệm vụ, đạt được thành tích gì đó, họ hay thường phát biểu cám ơn hay nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng, chính phủ, trong các sự kiện các nhà lãnh đạo được kính thưa theo 'tôn ty trật tự' từ cao xuống thấp.

Nhà nước càng lớn người dân càng nhỏ.

Cải cách thể chế sẽ đụng chạm đến quyền lực tuyệt đối, đến lợi ích nhóm, những kẻ cơ hội và tính quan liêu vốn có của bộ máy nhà nước, đặc biệt bị níu kéo bởi tư duy giáo điều về chủ nghĩa xã hội.

Để khép lại bài viết, xin dẫn lời của John M. Keynes, nhà kinh tế học nổi tiếng với tác phẩm được dịch sang tiếng Việt: 'Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ', trong đó ông nói "vấn đề lớn nhất không phải là để cho con người tiếp nhận các ý tưởng mới, mà làm sao để họ quên đi các ý tưởng cũ."

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nhà nghiên cứu về chính sách công từ Học viện Chính sách & Phát triển, thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam.

Tin liên quan