Máy của bạn không hỗ trợ nghe xem

Ý nghĩa của Công hàm 1958?

Trao đổi với BBC, ông Đinh Kim Phúc, một nhà nghiên cứu về Biển Đông từ trong nước, đã đưa ra một số lập luận phản bác công hàm 1958 do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký mà Trung Quốc cho rằng đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

“Phải xét hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, đó là thời kỳ Chiến tranh Lạnh,” ông Phúc nói. “Trước sự bao vây của Mỹ và một số nước đế quốc, Trung Quốc sợ bị tấn công nên ra tuyên bố về lãnh hải.”

Do đó, công hàm do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, theo ông Phúc, là ‘công hàm hữu nghị giữa hai người đồng chí anh em ủng hộ nhau để chống kẻ thù chung’.

“Nhưng Trung Quốc đã diễn giải công hàm này cho rằng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc,” ông nói.

Hơn nữa, theo ông Phúc, Trung Quốc cũng là một bên ký kết hiệp định Geneve vào năm 1954 chia cắt Việt Nam thành hai miền trong đó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam.

“Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa (để thừa nhận trong công hàm),” ông nói.

Ngoài ra, công hàm được ký năm 1958 này ‘chưa được Quốc hội thông qua’, ông Phúc nói thêm.

“Quốc hội Việt Nam cũng chưa từng bao giờ ra nghị quyết phủ nhận chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

“Cho dù thủ tướng một nước ký công hàm thừa nhận cái gì đó với những quốc gia có quan hệ ngoại giao nhưng không có nghị quyết của Quốc hội thì tôi nghĩ không có giá trị cao nhất,” ông nhận định.

Tuy nhiên nhà nghiên cứu này thừa nhận trong bối cảnh cuộc chiến ý thức hệ vào thời điểm đó đã ‘có ảo tưởng của những người lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa’.

“Họ cứ nghĩ rằng Trung Quốc là đồng chí, là anh em, sau này giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì chuyện anh em sẽ dễ giải quyết. Trung Quốc sẽ hữu nghị, sẽ trả đảo lại cho Việt Nam,” ông nói và khẳng định yếu tố ý thức hệ ‘đã chi phối hành động các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ’.