Anh và nguồn gốc cuộc chiến Việt Nam (1943-50)

Tiến sĩ Timothy O. Smith
Image caption Tiến sĩ Timothy O. Smith quan tâm vai trò của Anh tại Việt Nam

Nguồn gốc của cuộc chiến Việt Nam là vấn đề phức tạp. Đa số tác phẩm tiếng Anh có xu hướng xem cuộc xung đột chủ yếu như sự can dự quân sự của Mỹ tại một tiểu quốc châu Á, hoặc hơn nữa thì là một thành tố trong trò chơi quyền lực toàn cầu của Mỹ nhằm kiềm chế chủ nghĩa cộng sản.

Hỗ trợ quân sự của Mỹ cho Pháp năm 1950 đã ảnh hưởng đến hướng đi của các nghiên cứu và nhấn mạnh hoàn cảnh mà Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower thừa hưởng từ Tổng thống Harry Truman năm 1953, hơn là những gì Truman thừa hưởng từ Tổng thống Franklin Roosevelt năm 1945.

Vai trò của Anh trong nguồn gốc cuộc chiến đã bị làm mờ bởi số lượng sách tập trung về tính chất song phương của xung đột Mỹ - Việt.

Churchill và Roosevelt

Sự can dự vào Đông Dương của Anh bắt đầu từ 1943, không phải ở London mà là ở Washington. Tổng thống Roosevelt có ý tưởng trao trả độc lập cho Đông Dương từ tay Pháp, theo đó Đông Dương sẽ được quốc tế giám hộ trước khi được chính thức trả độc lập.

Anh quốc nghi ngờ rằng sự ủy trị dành cho Đông Dương sẽ chỉ là bước ban đầu, và Roosevelt sẽ dùng tiền lệ này để áp đặt chế độ giám hộ lên các thuộc địa khác, gồm cả Hong Kong và Malaya của Anh. Dẫu vậy, Thủ tướng Anh Winston Churchill cũng lo vấn đề Đông Dương và việc Bộ Ngoại giao Anh ủng hộ Pháp sẽ cản đường cho mối quan hệ đặc biệt giữa ông và Roosevelt. Churchill cần lấy lòng Roosevelt để bảo vệ Đế chế Anh. Nhưng Bộ Ngoại giao Anh đã làm chính sách đó thêm phức tạp khi cương quyết ủng hộ Pháp. Nhưng ngày 9.3.1945, Nhật chính thức chiếm Đông Dương - khiến Churchill ngả theo Pháp. Đô đốc Lord Louis Mountbatten nhận được chỉ thị, trước sự bất mãn của Mỹ, để hỗ trợ lính Pháp chống Nhật. Một tháng sau, tranh cãi Mỹ - Anh được giải quyết: sau khi Roosevelt qua đời, người kế nhiệm Truman tiến hành một chính sách thân thiện hơn với chính sách của Anh và Pháp. Giải phóng (tháng Bảy 1945-tháng Ba 1946)

Sau khi Nhật đầu hàng tháng Tám 1945, quân Anh đóng tại Đông Dương, phía nam vĩ tuyến 16 trong một phần nghĩa vụ của quân đồng minh giải phóng. Đồng thời, Việt Minh, tranh thủ khoảng trống quyền lực, cũng tuyên bố Việt Nam độc lập.

Image caption Churchill (trái) và Roosevelt có quan hệ đặc biệt

Nhiệm vụ giải phóng của Anh đã là chủ đề tranh cãi giữa các sử gia. Một số người công kích vai trò của tư lệnh Anh, Trung tướng Douglas Gracey, khi cho phép sự quay lại của chính quyền thực dân Pháp. Những người khác lại lưu ý gánh nặng mà Gracey phải chịu, bao gồm những chỉ thị không thực hiện được mà ông nhận từ London.

Anh quốc không một mình trả lại Đông Dương cho Pháp, cũng như những sự kiện diễn ra sau đó ở miền Nam Việt Nam không phải là trách nhiệm riêng của Gracey.

Việc cung cấp quân sự cho Pháp tại Đông Dương đã được quy cho là nhờ hỗ trợ của Anh, nhưng thực ra, Mỹ cũng dính líu trực tiếp đến việc trang bị cho Pháp quay lại Đông Dương.

Sau khi quân Anh triệt thoái khỏi Đông Dương tháng Ba 1946, trung tâm chính sách của Anh chuyển sang Singapore, nơi Lord Killearn giữ chức danh Đặc sứ vùng Đông Nam Á. Đông Dương vẫn là điểm quan trọng cho cơ quan của ông này.

Trong lúc Anh bắt đầu thực thi tiến trình trả độc lập cho Miến Điện và Ấn Độ, Đông Dương trở thành nhà mua quan trọng hàng hóa của Ấn Độ, cung cấp chất liệu thô và gạo cho Ấn Độ. Anh cũng lo ngại dân số lớn Hoa kiều ở Đông Nam Á có thể là nguồn gốc bất ổn. Vì các lý do chiến lược, Anh tiếp tục dính líu vào thương lượng biên giới giữa Campuchia và Thái Lan, và ngày càng quan tâm tình hình ở Việt Nam, đặc biệt câu hỏi công nhận Hồ Chí Minh hay Bảo Đại.

Làn gió thay đổi (1948-1950)

Từ năm 1948 đến tháng 12.1949, Mỹ ngày càng lo ngại về đe dọa của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Pháp liên tục yêu cầu phương Tây công nhận chính thể Bảo Đại. Người Pháp cũng tin rằng chỉ có họ đang gánh phần lớn gánh nặng cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản.

Malcolm MacDonald thay thế Killearn và Anh tiếp tục quan ngại tình hình diễn biến ở Việt Nam. Trước viễn cảnh cộng sản thắng trận tại Trung Quốc, Anh và Mỹ trở nên ám ảnh với việc thúc Pháp có nhượng bộ chính trị để gia tăng vị thế trong nước và quốc tế của Bảo Đại. Nhưng, trong hoàn cảnh giảm sút vị thế, Anh quốc quan tâm nhất là bảo vệ Malaya và nâng mức sống ở đó để chống cộng sản. Chính sách Đông Dương chỉ mang tính khu vực, mà trong đó vị trí Ấn Độ là quan trọng nhất, và Khối Thịnh vượng Chung mới là chìa khóa duy trì vị thế Siêu cường của Anh.

Trong lúc các chính khách Anh còn tranh cãi về quyết định công nhận Campuchia, Lào và Việt Nam, ảnh hưởng nước này đã giảm cùng với việc Hoa Kỳ chuyển dịch từ tranh cãi ý thức hệ sang cung cấp viện trợ lớn. Người ta đã tranh cãi Anh góp phần vào sự chuyển biến này đến mức nào. Chắc chắn, giai đoạn 1946-50, Anh mắc kẹt bởi mong muốn (và nhu cầu) hành động, nhưng không đủ lực. Anh nhẹ gánh khi có viện trợ của Mỹ dành cho Indonesia, Việt Nam và các nơi khác trong vùng. Viện trợ của Anh cho Đông Nam Á hạn chế thôi, nhưng thật trớ trêu, chương trình phát triển của Mỹ lại sẽ giúp ổn định ở Malaya và giúp cả Anh, Pháp hồi phục ở châu Âu.

Điểm yếu của đại chiến lược của Mỹ - đường lối ngăn chặn ở khắp châu Á - là nó phụ thuộc những liên minh song phương với Mỹ thay vì liên minh nhiều thành viên như NATO, và vì thế dễ bị suy sụp trước bất kỳ cuộc cách mạng nào đe dọa đường dây.

Đường lối ngăn chặn xuất phát từ một diễn giải đặc Mỹ về những sự kiện quốc tế. Nó không hiểu được bản chất phức tạp của quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, những khái niệm mà Anh quốc bị buộc phải hiểu. Sự hiểu biết ngây thơ, đặc biệt là về Việt Nam, sẽ cản trở những nhà hoạch định Mỹ trong những năm sau này.

Kết luận

Chính sách đối ngoại của Anh với Việt Nam rốt cuộc phản ánh vị trí tụt giảm của Anh trong địa chính trị thế giới sau Thế chiến Hai. Nó phản ánh thay đổi trong quan hệ Anh - Mỹ, từ bình đẳng thành phụ thuộc.

Nó thể hiện quan hệ thay đổi của Anh, không chỉ với các thuộc địa của họ, mà cả với các không gian đế quốc khác của châu Âu tại Đông Nam Á. Anh phụ thuộc vào Khối Thịnh vượng chung để duy trì vị thế Siêu cường và phần nào đó để độc lập trước Mỹ. Nhưng cũng vì thế mà Anh phải lắng nghe yêu sách của Ấn Độ và các nước khác. Quan hệ của Anh với Pháp, đặc biệt là mong muốn nhìn thấy Pháp phục hồi ở châu Âu để bảo vệ an ninh và ổn định của châu Âu, đã giúp người Pháp gây sức ép với Anh về Việt Nam.

Đây là một giai đoạn sôi động. Chính sách ngoại giao của Anh chắc chắn không thể hiện một quan điểm thống nhất về Việt Nam. Winston Churchill và Đô đốc Lord Louis Mountbatten cùng theo đuổi chính sách riêng, ngược với cả Bộ Ngoại giao và Bộ Chiến tranh. Sau đó, cách tiếp cận của Lord Killearn và Malcolm MacDonald đôi khi linh động hơn hơn ý muốn của London. Tướng Douglas Gracey, tư lệnh Anh ở Sài Gòn, có lẽ đã bị chê trách một cách bất công vì hành động của ông trong thời gian giải phóng của Đồng minh năm 1945. Nhưng kẻ chủ mưu thật sự là người Pháp và di sản của họ sau đó còn ở lại Việt Nam suốt nhiều thế hệ.

Về tác giả:Tiến sĩ Timothy O. Smith là Phó Giáo sư Lịch sử ở Đại học Huntington, Mỹ. Ông là tác giả quyển Britain and the Origins of the Vietnam War: UK Policy in Indo-China 1943-1950 (Palgrave Macmillan, 2007).