Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên

Hai thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Ôn Gia Bảo tại Hải Nam tháng 4/2009

Tại hội thảo về các thể chế độc đoán (authoritarian regimes) Á châu tổ chức ở Hong Kong, chuyên gia về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Australia Carlyle Thayer có tham luận về quan hệ giữa ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Đây đều là các quốc gia độc đảng và độc đoán, được giới nghiên cứu tập trung xem xét trong hội thảo lần này.

BBCVietnamese.com xin trích giới thiệu tham luận của Giáo sư Thayer tới quý vị.

Bối cảnh quan hệ

Tháng 1/1950, cả hai nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đều đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trung Quốc đã ủng hộ những người cộng sản Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và quan hệ hai bên được ví như "môi với răng".

Sau đó cả Trung Quốc và Bắc Triều Tiên cùng cung cấp nhiều trợ giúp cho Bắc Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ (1965‐73).

Tuy nhiên quan hệ giữa Hà Nội với Bắc Kinh, và ở mức độ ít hơn, với Bình Nhưỡng, đã xấu đi trong thời kỳ xung đột Campuchia (1979‐91). Khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, Trung Quốc đã quyết định đánh Việt Nam và hỗ trợ quân sự cho Khmer Đỏ.

Lúc đó, Hoàng thân Norodom Sihanouk sang Bắc Hàn để lánh nạn.

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc mới chỉ được bình thường hóa vào năm 1991 sau khi vấn đề Campuchia được dàn xếp. Tám năm sau, tháng Ba 1999, tại cuộc họp lãnh đạo hai đảng cộng sản, người ta đưa ra phương châm 16 chữ vàng - Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện làm kim chỉ nam cho quan hệ hai nước.

Năm tiếp sau đó, 2000, Việt Nam và Trung Quốc ký Tuyên bố chung về Quan hệ hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, được coi như bộ khung cho quan hệ song phương.

Năm 2006, hai nước thống nhất thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc và tới tháng 6/2008, quan hệ hai bên được nâng lên thành "đối tác chiến lược" để rồi một năm sau đó lại nâng lên tiếp thành "đối tác hợp tác chiến lược".

Từ tháng 3/2009, lãnh đạo Việt Nam - Trung Quốc đã thiết lập đường dây nóng để thảo luận các vấn đề cấp thiết, đặc biệt là xung đột trên Biển Đông.

Hai nước thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu trong các lĩnh vực và các cấp. Riêng năm 2009, có tới 267 đoàn khác nhau, trong đó 108 đoàn là cấp thứ trưởng trở lên.

Image caption Không có quyết định lớn nào từ Hà Nội mà không tính tới Trung Quốc

Quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên thì không được rầm rộ như vậy.

Năm 1958, hai Chủ tịch Hồ Chí Minh và Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) đã sang thăm nhau, nhưng mãi tận 1989, hai nước mới thành lập Ủy ban liên chính phủ về Hợp tác Kinh tế, Khoa học và Kỹ thuật.

Ủy ban này cũng chỉ họp thường niên được ba năm đầu, sau đó nghỉ cả chục năm vì lẽ Bình Nhưỡng không đồng tình với việc Việt Nam quan hệ với Hàn Quốc.

Trong tám năm liền, hai bên không trao đổi một đoàn cấp cao nào.

Năm 2000, Bắc Triều Tiên nối lại quan hệ ngoại giao cấp cao với Việt Nam bằng việc gửi Bộ trưởng Ngoại giao sang thăm Hà Nội.

Ủy ban liên chính phủ được tái khởi động và có cuộc họp lần thứ tư vào tháng 10/2001. Một năm sau, Chủ tịch Việt Nam Trần Đức Lương thăm Bình Nhưỡng và ký sáu văn kiện hợp tác.

Thế nhưng quan hệ song phương Việt Nam - Bắc Triều Tiên vẫn tiến triển chậm chạp. Năm 2007 Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm thăm Bắc Triều Tiên.

Năm 2008 người ta trông đợi lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Il thăm Việt Nam nhân kỷ niệm 50 năm chuyến đi của cha ông tới Hà Nội, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Việt Nam và Trung Quốc

Quan hệ giữaViệt Nam và Trung Quốc quả thực không cân bằng trong mọi quy chiếu quyền lực.

Với dân số 89 triệu, Việt Nam là nước đông dân thứ 13 thế giới, nhưng cũng chỉ bằng một tỉnh cỡ vừa của Trung Quốc.

Lãnh đạo Việt Nam luôn luôn phải lo lắng làm sao giữ được chủ quyền độc lập mà không rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc.

Việc đó được thực hiện thông qua công cụ ngoại giao là các chuyến viếng thăm cấp cao, qua việc ký kết nhiều tuyên bố chung, thỏa thuận và hiệp định vốn có mục tiêu cụ thể và minh bạch hóa các hoạt động của Trung Quốc, hạn chế ảnh hưởng tới lợi ích của Việt Nam.

Việt Nam luôn nhấn mạnh quan hệ thân cận trong quá khứ để hành động sao cho hai bên cùng có lợi tuy còn nhiều bất đồng.

Thí dụ nổi bật là cách tiếp cận của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Việt Nam đã tìm cách thống nhất với Trung Quốc cách thức thông qua các nhóm công tác để giải quyết các vấn đề dễ trước, khó sau. Kết quả là hai bên đã ký hiệp định về biên giới trên đất liền và thỏa thuận về Vịnh Bắc bộ.

Trong 5 năm tới, có lẽ Việt Nam chú trọng giữ yên Biển Đông, không để xảy ra xung đột vũ trang và hai bên có thể hình thành cơ chế cùng khai thác nguồn lợi thiên nhiên ở Vịnh Bắc bộ và Biển Đông.

Chủ trương của Hà Nội là dựa vào ngoại giao là chính, nhưng cũng tăng cường năng lực hải quân.

Ba chiến lược của Việt Nam là: Thứ nhất, tiếp tục đàm phán song phương để thỏa thuận nguyên tắc hành xử trong các vùng có tranh chấp, tiến tới cùng khai thác trong các vùng ít nhạy cảm hơn cả.

Thứ hai là huy độg nỗ lực đa phương trong việc giữ hòa bình, ổn định ở Biển Đông, thu hút các công ty nước ngoài để giữ quan tâm của các nước khác. Việt Nam cũng đang muốn thúc đẩy việc nâng cấp Tuyên bố chung về Ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 thành bộ Quy tắc Ứng xử.

Thứ ba, Việt Nam muốn phát triển năng lực quốc phòng để đủ sức đương đầu với Trung Quốc nếu phải dùng vũ lực.

Quan hệ quốc phòng giữa hai bên vẫn còn sơ khai và trong 5 năm tới Việt Nam sẽ phấn đấu mở rộng hợp tác quốc phòng vì lý do chính trị và nhu cầu thực tế, không chỉ để xây dựng lòng tin mà còn tìm cách ảnh hưởng tới quân đội Trung Quốc, vốn đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống chính trị của nước này.

Hà Nội có thể đang tính toán việc sử dụng quan hệ quân sự với Trung Quốc như "bình phong chính trị" cho thúc đẩy quan hệ quân sự với Hoa Kỳ.

Một khía cạnh quan trọng trong quan hệ Việt-Trung là thương mại. Trung Quốc nay là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên vấn đề chính ở đây là thâm hụt thương mại (11,1 tỷ đôla năm 2008). Trong năm 2008, Trung Quốc xuất khẩu 15,7 tỷ đôla hàng hóa vào Việt Nam, trong khi Việt Nam chỉ xuất được 4,6 tỷ vào Trung Quốc.

Cân bằng cán cân thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng kinh tế của các công ty nội địa là quan tâm lớn và nỗi đau đầu của lãnh đạo ở Hà Nội.

Có thể nói ngắn gọn là Việt Nam đang nỗ lực dùng các cách thức ngoại giao, quân sự và kinh tế để nhằm đạt mục tiêu chiến lược là sự công nhận của Trung Quốc đối với độc lập và chủ quyền của Việt Nam, đổi lại Việt Nam cũng công nhận vị thế hàng đầu khu vực của Trung Quốc.

Không có quyết định lớn nào được đưa ra ở Hà Nội mà không tính trước tới Trung Quốc và phản ứng của Bắc Kinh.

Việt Nam và Bắc Triều Tiên

Quan hệ ngoại giao của Việt Nam đối với Bắc Triều Tiên dựa trên nguyên tắc "làm bạn với tất cả các nước".

Nền kinh tế yếu kém cũng như vị thế bị hắt hủi của Bắc Triều Tiên trong cộng đồng quốc tế thực ra có thể mang cơ hội lại cho ngoại giao Việt Nam. Hà Nội ủng hộ việc Bắc Hàn trở thành thành viên của Diễn đàn khu vực Asean (ARF) và cũng từng chủ trì đàm phán hòa giải giữa Nhật Bản và Bắc Hàn.

Image caption Ông Kim Jong Il từng được trông đợi sẽ thăm Việt Nam

Trong những năm tới, khi có cơ hội, Việt Nam chắc sẽ sẵn sàng đóng vai trò xây dựng trong nỗ lực khuyến khích Bắc Triều Tiên thoát ra khỏi tình trạng tự cô lập.

Trong những năm 1990, tình hình thiếu đói ở Bắc Triều Tiên đã cho Việt Nam cơ hội trao đổi hàng hóa với nước này. Năm 1996, hai nước đổi gạo lấy vũ khí và Việt Nam có trong tay các hỏa tiễn phòng không lưu động Igla (SA‐16 Gimlet), hai tàu ngầm mini Yugoclass và một số ít hỏa tiễn đạn đạo Scud C.

Quan hệ quốc phòng hai bên ngưng trệ trong sáu năm trước khi được nối lại.

Hiện tại, việc phát triển quan hệ quốc phòng hai bên đang bị chế tài của Liên Hiệp Quốc cản trở và Hà Nội khó có thể quay lại đổi hàng hóa lấy vũ khí với Bình Nhưỡng trong lúc này.

Thương mại giữa hai bên cũng chưa bao giờ vượt quá ngưỡng 30 triệu đôla/năm. Việt Nam từng bán gạo cho Bắc Hàn nhưng năm 1997 hai bên đã có bất đồng về giá cả.

Quan hệ từng có lúc xấu tới nỗi Bắc Hàn không thèm nhận hàng viện trợ của Việt Nam. Tuy nhiên, trong tương lai, các thỏa thuận trao đổi hàng có thể sẽ được thực hiện.

Việt Nam còn có thể chia sẻ kinh nghiệm cho Bắc Triều Tiên với tư cách quốc gia độc đảng khá thành công trong phát triển kinh tế. Đã có một số phái đoàn từ Bắc Hàn tới Việt Nam thăm quan và học tập.

Bắc Hàn xem ra ở thế yếu hơn trong quan hệ với Việt Nam. Bình Nhưỡng chỉ có thể phản đối và ngừng hợp tác với Việt Nam chứ không làm được gì hơn nữa.

Việt Nam không mấy mặn mà với chủ nghĩa tôn sùng lãnh tụ của Bắc Triều Tiên, cũng như mô hình kinh tế của nước này. Để quan hệ hai bên tiến lên, Bắc Triều Tiên sẽ phải tỏ ra thiện chí hơn nữa.

Tin liên quan