'Chính sách cai nghiện vẫn vá víu'

Image caption Muốn chống ma tuý cần thay đổi nhận thức về hướng nhân bản, không phỉ báng, đe dọa

“Tai họa đáng tiếc, đối lập với hành vi đáng bị chỉ trích". Câu nói trên đây, trích từ tập tài liệu của cuộc hội thảo quốc tế về ma túy diễn ra tại Hà nội, tháng 7/2008.

Tôi cảm thấy thấm thía và bùi ngùi, vì nó khái quát khá chính xác một thực trạng đã diễn ra hơn 1/3 thế kỷ về lãnh vực này tại Việt Nam.

Thời kỳ sau 1975 là một đêm dài của bóng tối cho những người nghiện và gia đình họ cho tới khi Quốc hội Việt Nam tiến hành sửa đổi, bổ sung về luật phòng chống tệ nạn ma túy năm 2008, một bước 'xê dịch' căn bản.

Nhìn lui về quá khứ

Từ 1975, trong ngôi nhà mới của thời hòa bình cả nước thống nhất, sự cai trị một quốc gia thời bình có lẽ là điều quá mới mẻ, cùng sự ngổn ngang sau chiến tranh.

Người nghiện ma túy và người hành nghề mãi dâm, được xem là một tệ nạn xã hội và một chính sách được dành riêng cho họ.

Đây là vấn đề thuần túy của con người và xã hội, nhưng không được nhìn nhận đơn thuần theo nghĩa ấy mà được mang thêm một tội danh mới dưới màu sắc chính trị: 'tàn dư của Mỹ - Ngụy để lại'.

Ít nhất có hai nguyên nhân về sự vắng bóng ma túy tạm thời trong giai đoạn nầy.

Người nghiện ma túy và mãi dâm được gom vào những trại tập trung, tách biệt với xã hội nên khó ai biết được cái gì đã diễn ra trong ấy.

Thời kỳ đói kém tơi bời cùng với cái uy của chế độ mới, không còn ai dám nghĩ đến chuyện ăn chơi hưởng thụ, hoặc có hành vi phi pháp mà người nghiện thường mắc phải, vì có thể bị xử tử tức thời, ngay tại chỗ. Khi đổi mới, kinh tế phát triển, tệ nạn lại bật dậy.

Đây lại là lý do khá hùng hồn của những nhóm người có tư duy bảo thủ dựa vào đó để công kích chủ trương đổi mới.

Còn thì tệ nạn vẫn ở trong phần bóng tối của xã hội, vì nó hoàn toàn thuộc về nhà nước.

Người nghiện và mãi dâm nằm ở tầng đáy của sự khinh rẻ, dưới cái nhìn là 'tệ nạn và tàn dư', họ gần như bị đồng hóa thành tội phạm, thuộc lãnh vực cai quản của Công An, phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Từ tháng 4/2004 Việt Nam áp dụng chính sách cai nghiện cưỡng bức trên diện rộng, TPHCM là đơn vị đi đầu về “quyết đoán”nầy, trên nền chung của Nghị định 147 (2003) do Thủ tướng Phan văn Khải ký ban hành.

Người nghiện và người mại dâm được quản lý ở các trại tập trung, sau nầy bị dư luận phê phán là vi phạm nhân quyền.

Nhưng dù sao, tôi vẫn thấy NĐ 147 là bước tiến bộ hơn mấy thập niên trước, từ sự hổn mang chuyển sang một trật tự “khép chặc vòng vây”, dù vậy hãy còn lâu để đạt đến cái đích để không còn sự đáng tiếc.

Mãi đến 2008, tức 33 năm sau, Quốc Hội Việt Nam mới có điều chỉnh, bổ sung về luật. Điều hệ trọng nhất trong sửa đổi nầy là xem người nghiện ma túy là người bệnh.

Gái mại dâm được xem là nạn nhân của đói kém, vô nghề nghiệp, thất học, mặt khác nó là tình huống không thể loại bỏ trong mọi chế độ xã hội. Họ không còn là đối tượng để trừng trị, mà để cứu vớt.

Sự chuyển hướng mở đầu của khái niệm nhân quyền trong vùng trũng nhất của xã hội nhưng cũng cần đặt vài câu hỏi.

Sao lại mất tới 33 năm để đi đến nhận thức về chứng nghiện ngập ma túy, hay mại dâm vốn không phải là điều quá mới mẻ đối với Việt Nam và cũng không quá cao siêu về mặt khoa học?

Trách nhiệm của các thế hệ lãnh đạo đã trôi qua vô tư, và những Viện nghiên cứu xã hội làm gì và không sử dụng những chuyên viên?

Lãnh đạo các cấp thường biện minh “nhận thức là một quá trình” khi đối diện với cái đã sai không thể chối cãi, nhưng quá trình nhận thức lại có thể rút ngắn hay kéo dài ra chẳng lẽ vô can với chủ thể?

Từ khi có sự điều chỉnh của Quốc hội, 2008 đến 2013, đã ngót sáu năm, sự triển khai theo hướng mới, chỉ là một bước “xê dịch” tại chỗ, tuy quan trọng nhưng quá khiêm tốn và dễ dãi.

Họ đã trả tự do cho gái mại dâm, giảm bớt một số hợp đồng lao động cưỡng bức trong các trại giam người nghiện, không triển khai ồ ạt những chiến dịch để cưỡng bức họ vào trại, không còn những khẩu hiệu kinh hoàng của các lãnh đạo (giam giữ- cách ly xã hội- 5 năm không lành thì sẵn sàng 10 năm), nhưng nội dung cách vận hành của các trung tâm thì vẫn thế.

Tuy chỉ mới thay đổi về quan niệm, nhưng vẫn bị phản đối dù yếu ớt. Họ lập luận rằng vì xả trại, cho về sớm như thế, hai năm thay vì 5-10 năm, làm cho thành phố có hiện tượng gia tăng cướp giựt.

Mọi sự thay đổi có hiệu quả, phải bắt đầu bởi nhận thức từ một động cơ chân chính, phải xuất phát từ chỗ đứng có ý thức trách nhiệm của những người đang giữ vai trò ở các cấp.

Giải pháp xã hội dân sự

Không có vấn đề tư tưởng hay quan niệm gì ở đây.

Vượt lên trên nhận thức là vấn đề của nhánh quyền lợi, xuất phát từ cơ chế ôm đồm rất đáng tiếc, của một guồng máy chưa quan tâm đến sức mạnh của xã hội, không cần sự hợp sức theo cách chủ động của một xã hội dân sự.

Họ không cho phép sự tương trợ hay tài trợ trực tiếp của những tố chức phi chính phủ, thay vì khuyến khích. Quỹ tài trợ của quốc tế phải được bàn tay nhà nước nhận trực tiếp, và chi ra cũng theo cách của bàn tay ấy.

Đúng vậy, người nghiện ma túy có hành vi hư hỏng, nhiều tiêu cực và đáng bị chỉ trích, nhưng các biện pháp đáp ứng cho sự điều chỉnh nói trên lại là tai họa quá lớn và đáng tiếc, vì đáng lẽ không xảy ra đến như thế.

Người nghiện ma túy càng không hiểu rằng, ngoài cái đau khổ của bệnh tật do họ gây ra, cái đau khổ trở nên gấp bội lần mà họ phải chịu đựng là kết quả cũng là nguyên nhân làm cho các tiêu cực xảy ra.

Trên Diễn đàn BBC, bạn Minh Phúc từng viết:

“Chuyện học viên cai nghiện bị ngược đãi và bị đánh chết đã có từ lâu ở hầu hết các trung tâm 06 đặt ra câu hỏi, vì sao mạng sống của người nghiện ma túy ở Việt Nam vẫn bị rẻ rúng đến như vậy?”

Họ mong muốn gì? Rất tầm thường và tối thiểu :

Image caption Chính quyền bỏ ra nhiều công sức để giáo dục chống ma tuý nhưng cách làm còn thiếu định hướng

“Tính mạng người nghiện được đảm bảo, điều kiện lao động, sinh hoạt (tương thích), được… hút thuốc lá, thuốc lào …, chỉ cần như ở trong các trại tù thôi thì người nghiện cũng an tâm đi cai.”

Một trung tâm cai nghiện đòi hỏi nhiều điều hơn là bạn tưởng, vì nó khác một nhà tù, nó có trọng tâm là một sự giáo dục có tính đặc thù.

Nhưng rõ ràng, nó đang tệ hại hơn cả nhà tù.

Tai họa này đang được gở bỏ, nhưng rất chậm chạp vì năng lực bất cập, nhất là thiếu hẳn đội ngũ nhân viên thích hợp, có thiện chí, hiểu biết và thân thiện, thay cho phong cách hành chánh, uy quyền và mệnh lệnh.

Cách tuyên truyền để ngăn ngừa ma túy trong giới thiếu niên chưa nghiện cũng quá hời hợt và qua loa.

Hiện Việt Nam không có một tiết học nào ở cấp trung học, một tiết mục thường xuyên nào trên truyền thông thay thế vài phút phim Tàu về chủ đề cai nghiện.

Quá trình cai nghiện để đưa một người đến hồi phục quả không đơn giản. Một người hồi phục là đồng nghĩa với một con người biết sống với các phẩm chất lương thiện, có khả năng tự làm chủ được bản thân.

Tự một mình, nhà nước không thể làm được một công việc như thế, vậy thì sao lại ôm hết vào mình?

Chủ trương xã hội hóa là đúng nhưng nó đang được bỏ ngỏ dưới hình thức đối phó, vá víu tạm thời, không chuyên nghiệp, cũng như chưa có hướng đi rõ nét.

Tình trạng nầy sẽ kéo dài cho đến chừng nào bộ máy cai trị nhìn nhận và khơi dậy được sự tham gia tích cực của xã hội, bằng một chính sách minh bạch, hợp lý với cái nhìn khuyến khích, nhân bản, và tinh thần hợp tác thật sự của nhà nước.

Bài thể hiện quan điểm riêng của ông Hạ Đình Nguyên, hiện sống tại TPHCM.

Tin liên quan