'Nhớ Đoàn Tử Huyến, dịch giả và người làm xuất bản'

  • Lại Nguyên Ân
  • Viết từ Hà Nội
Dịch giả Đoàn Tử Huyến (1952-2020)
Chụp lại hình ảnh,

Dịch giả Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

Tôi quen biết Đoàn Tử Huyến (1952-11/2020) từ khoảng đầu những năm 1980s. Lúc ấy không gian văn hóa văn học bên ngoài (nước ngoài) mà mình ở Việt Nam có điều kiện để biết, buồn thay, chỉ là cái “không gian bạn bè” của giới lãnh đạo cấp trên.

Mà các hiện tượng, “vật phẩm” biểu hiện ra, thường chỉ là bài báo cuốn sách do chính người mình dịch ra, in ra; với chỉ mỗi một nét khác biệt: tác phẩm nguyên bản là của nước ngoài, của nguồn Đông Âu, Liên Xô.

Tác phẩm của khu vực ấy được chú ý, thì đám biên tập viên xuất bản bọn tôi chăm chú tìm người trong số giảng viên mấy trường ngoại ngữ, trong số những người làm dịch thuật. Ngoài những tên tuổi đã quen như Nguyễn Thụy Ứng, Cao Xuân Hạo, Phạm Mạnh Hùng, Thúy Toàn, Lê Sơn, Phan Hồng Giang, Bằng Việt, Quang Chiến, v.v., giới xuất bản và báo chí văn học “săn” thêm được những tay bút như Anh Trúc, Lê Khánh Trường, Phan Minh Châu, Vũ Đình Phòng, Vũ Đình Bình, Vũ Việt, Thái Bá Tân, Thái Hà, Lê Đức Mẫn...

Những cuốn sách dịch đầu tiên của Đoàn Tử Huyến

Nơi thu hút được nhiều nhất từ nguồn nhân lực này hồi ấy chính là nhà xuất bản Lao động. Anh Ma Văn Kháng từ Lào Cai chuyển về tham gia ban biên tập nhà Lao động, hình như đã tạo ra một sức hút đáng kể. Dạo ấy có thể kể được hàng chục nhà giáo dạy tiếng Nga trở thành cộng tác viên mảng sách dịch cho mấy nhà xuất bản ở Hà Nội; hơn nữa, còn có thể kể được dăm người bỏ nghề dạy học chuyển sang nghề làm sách.

Đoàn Tử Huyến xuất hiện trên văn đàn chính vào những năm đầu 1980s ấy. Nay tra cứu thì cuốn sách anh dịch được xuất bản đầu tiên là truyện dài “Đường ray bạc” của nhà văn Xô-viết Vladimir Chivilikhin (bản dịch, Nxb. Lao động, 1982). Nhưng bạn văn thì đánh dấu trí nhớ của mình về dịch giả Đoàn Tử Huyến bằng cuốn “Trái tim chó”, truyện vừa của nhà văn Nga Xô-viết Mikhail Bulgakov (bản dịch, Nxb. Lao động, 1988), ra mắt khá lâu trước khi anh làm xong và đưa in bản dịch kiệt tác của M. Bulgakov: “Nghệ nhân và Margarita” (Trung tâm VH-NN Đông Tây & Nxb. Lao động, 2006). Tính đến lúc in bản dịch “Trái tim chó” (1988), dịch giả này đã in đến mươi cuốn sách dịch. Còn tính đến năm 2010, theo sách ghi danh hội viên Hội nhà văn Việt Nam, dịch giả Đoàn Tử Huyến đã có chừng trên 40 cuốn sách dịch được xuất bản.

Còn nhớ, lần đầu tiên tôi xúc tiếp riêng với Đoàn Tử Huyến thì anh đã là chủ một trung tâm làm sách, thuê trụ sở ở 37 Hai Bà Trưng, Hà Nội...Hôm ấy Huyến hẹn nói chuyện một buổi với tôi, để nêu những nhận xét của anh về trạng thái sách dịch xuất bản mấy năm cuối 1980s – đầu 1990, nhất là điều mà anh cho là “hiện tượng”: sự xuất hiện loại sách dịch “tiểu thuyết Mỹ” với một số nét chung dễ nhận biết, nhiều tính giải trí hơn là tính văn học. Anh đề nghị tôi lưu ý nhận định của anh, và dùng tài liệu anh cung cấp đó viết lên báo. Thì ra, lúc ấy Huyến đã vào khá sâu trong giới làm sách rồi, đã biết khá kỹ tình hình thị trường sách của ta rồi.

Vốn là học trò Nghệ Tĩnh được đưa sang du học Liên Xô, anh Huyến học ngữ văn nên thạo cả tiếng Nga lẫn văn học Nga. Về nước được phân công dạy ngữ văn tại khoa Nga văn, Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, rồi anh lại có dịp sang Nga một vài lần nữa. Nhưng hoạt động dịch thuật lôi cuốn anh, hoạt động làm sách cũng lôi cuốn anh. Từ trường đại học, năm 1983, anh chuyển về nhà xuất bản Lao động. Rồi, không yên phận với công việc một biên tập viên và một dịch giả, Đoàn Tử Huyến muốn tự mình trở thành nhà xuất bản, can dự công việc tổ chức xuất bản phát hành sách. Tham vọng ấy ban đầu dường như vượt khỏi quy chế, bởi hoạt động ấy là đầu tư, là kinh doanh, mà kinh doanh tư nhân hay nhóm tư nhân ở lĩnh vực văn hóa, lúc ấy lại chưa được chấp nhận.

Để có thể hoạt động, Đoàn Tử Huyến (và những người có hoạt động tương tự) phải thiết lập sự liên kết với các đơn vị hoặc cơ sở quốc doanh. Anh và ê-kíp của anh (gồm đến hàng chục nhân viên), nhiều năm ròng, phải hoạt động “vô danh”. Họ nghĩ ra đề tài sách, tìm cộng tác viên, tiến hành biên tập thành bản thảo, đưa tới một nhà xuất bản nào đấy làm thủ tục, xin giấy phép, rồi tự mình liên hệ thuê in, ra sách, trả nhuận bút cho tác giả, đưa sách đi phát hành, nhưng vẫn là “vô danh”; trên ấn phẩm không hề có bất cứ dấu vết gì chứng tỏ đó là sản phẩm do anh và các cộng sự thực hiện! (Tôi viết điều này cho các bạn ở thế hệ sau, chứ người cùng giới xuất bản và cùng thời với tôi thì hiểu biết về các chuyện này có thể còn hơn hẳn tôi!)

Tôi còn nhớ, hồi 1992, bộ sách sưu tập 12 tập thơ mới Việt Nam 1932-1945 do tôi và nhà thơ Ý Nhi thực hiện nhân 60 năm “phong trào thơ mới”. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn chi nhánh Tp.HCM. tổ chức in tại Tp.HCM. Sách chỉ in 1000 bản nên không còn sách bán ra vùng ngoài. Anh Huyến đề nghị tôi biên soạn lại để in và phát hành ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc. Tôi đi thư viện lấy thêm tư liệu rồi cùng nhóm của anh làm thành 15 tập của 15 tác giả, in mỗi tập 1500 bản; khổ in lớn bán hết, lại in khổ nhỏ bỏ túi.

Sau nữa, anh Huyến đề nghị tôi soạn dồn lại thành một cuốn dày; tôi bổ sung thêm tác phẩm của chừng 50 tác giả nữa, thành sách “Thơ mới 1932-1945, tác giả và tác phẩm”, nhóm anh Huyến dàn thành cuốn sách khổ 14x20cm dày gần 1400 trang; cuốn này in lại đến 6 lần, từ 1998 đến 2004. Điều rất rõ là ở các bản in trước 1999, không có bất cứ dấu hiệu nào để biết chắc chắn đấy là sách do nhóm anh Huyến làm. Chỉ mấy lần in sau năm 2000, ở trang signet (trang đánh dấu ấn phẩm) mới có thêm mấy dòng, cho biết ấn phẩm này do “nhà sách Đông Tây thực hiện liên kết xuất bản”.

Cũng chính là trong nỗ lực tạo các điểm tựa hoạt động, Đoàn Tử Huyến và “nhà sách Đông Tây” của anh đã góp phần đắc lực vào việc thành lập tạp chí “Văn học nước ngoài”...

Sau đại hội nhà văn lần thứ tư (tháng 10&11/1989), ông Nguyên Ngọc phụ trách ban sáng tác, quyết đưa “Văn học nước ngoài” thành tạp chí. Nhưng ông Nguyên Ngọc cũng chỉ dừng lại ở việc vận động, chuẩn bị. Phải đến sau Đại hội nhà văn lần thứ năm (tháng 3/1995), việc mở tạp chí mới thành hiện thực. Hội nhà văn Việt Nam xuất bản tạp chí “Văn học nước ngoài” số 1 vào tháng 1&2/1996, kỳ hạn 2 tháng/số, mỗi số trên dưới 100 tr. 27x19cm, Tổng biên tập Ma Văn Kháng, hai Phó tổng biên tập Đặng Thái Hà, Đoàn Tử Huyến.

Trung tâm Đông Tây và các tác giả lịch sử

Trong chiều hướng cởi mở dần từ phía quản lý nhà nước, Đoàn Tử Huyến và một số anh em gần gũi bàn nhau lập “trung tâm” nâng hoạt động rộng ra ngoài phạm vi đã làm từ dăm năm trước. “Trung tâm văn hóa-ngôn ngữ Đông Tây” được thành lập là do nỗ lực của anh Huyến cùng một số bạn bè vốn gắn với ngôn ngữ Nga, văn hóa Nga như Thúy Toàn, Vũ Thế Khôi, v.v.; một phần đáng kể nữa là khá đông các nhà nghiên cứu quê Nghệ Tĩnh hoặc làm các đề tài văn hóa lịch sử nhân vật gắn với Nghệ Tĩnh.

Cốt lõi của trung tâm này vẫn là Đoàn Tử Huyến và nhóm làm sách của anh. Có trung tâm rồi, các hoạt động trở nên chính danh hơn. Tôi nhớ đến những cuộc tọa đàm về các cuốn sách mới, nhất là những cuốn được dư luận nhiều bạn đọc chú ý, ví dụ lần tọa đàm về bản dịch truyện “Tô-tem Sói” của một tác giả Tàu, hoặc lần tọa đàm nhân ra mắt cuốn tiểu luận “Suy nghĩ về nghệ thuật” của lão họa sĩ Trần Duy. Tôi cũng nhớ những hội thảo tại các địa phương xa do trung tâm Đông Tây phối hợp với đơn vị khác thực hiện, ví dụ năm 1995 một hội thảo về Phan Bội Châu, liên kết với Sở VH-TT Nghệ An; rồi hội thảo về quan hệ văn học Việt Nam-Thụy Điển, liên kết với các hội VHNT Nghệ An, Hà Tĩnh và sứ quán Thụy Điển...

Anh Huyến còn lập ra thư viện Đông Tây tại nhà sách Đông Tây. Một phần đáng kể sách của trung tâm là gắn với văn hóa văn học Nga. Vì lý do này, tôi đã chuyển về đây khá nhiều sách báo, tạp chí tiếng Nga mà bọn tôi có. Số là thư viện Hội nhà văn, hồi đầu năm 1995 loại bỏ khá nhiều sách báo cũ, trong đó có mảng các tạp chí do phía Nga vẫn gửi tặng, ví dụ các tạp chí “Thế giới mới” (Novy Mir), “Các vấn đề văn học” (Voprosy literatury), “Văn học nước ngoài” (Inostrannaya literatura), v.v. Tôi và Vương Trí Nhàn xin lại rồi mang về để trong tủ ở phòng làm việc của bọn tôi tại nhà xuất bản Hội Nhà văn ở 65 Nguyễn Du. Lúc bọn tôi nghỉ hưu, năm 2007, bọn tôi chuyển hết số tạp chí cũ này cho thư viện Đông Tây ở phố Trần Quý Kiên.

Giới nghiên cứu đặc biệt chú ý và đánh giá cao việc trung tâm này phối hợp với nhà xuất bản Thuận Hóa thực hiện bộ sách Toàn tập Phan Bội Châu, gồm 10 tập dày dặn. Nhà nghiên cứu Chương Thâu dành gần như cả đời nghiên cứu của mình cho việc sưu tập, dịch thuật các tác phẩm của chí sĩ Phan Sào Nam (1867-1940). Năm 1990 lần đầu tiên đã xuất bản được bộ Toàn tập Phan Bội Châu, gồm 10 tập gồm trên 6000 trang tác phẩm, do nhà xuất bản Thuận Hóa thực hiện. Những phản hồi về bộ Toàn tập in lần đầu khiến nhà nghiên cứu Chương Thâu nghĩ tới việc chỉnh sửa bổ sung, cần có một phòng biên tập vững tay ở ngay Hà Nội. Và trung tâm Đông Tây đã đáp ứng yêu cầu của ông.

Bộ Toàn tập Phan Bội Châu đưa in lần thứ hai đã được “bổ sung tương đối đầy đủ, đánh dấu một chặng đường nghiên cứu Phan Bội Châu của soạn giả Chương Thâu cũng như của giới nghiên cứu nước nhà bước sang thiên niên kỷ mới” (trích Lời nói đầu). So với bộ toàn tập in 1990, bộ sách mới bổ sung thêm khoảng 5000 trang bản thảo (kể cả nguyên văn chữ Hán) mới sưu tầm, chú giải, trong đó có những tác phẩm là phát hiện mới. Hiện nay, bộ toàn tập này trở thành nguồn tài liệu cơ bản cho những nghiên cứu về danh nhân Phan Bội Châu.

Có lẽ, do cung cấp được cho thị trường sách khá nhiều cuốn sách được tổ chức và biên tập đạt chất lượng tốt, cho nên, sau một thời gian, phòng biên tập của trung tâm Đông Tây trở thành “lò luyện” những biên tập viên thạo nghề. Hầu hết họ tốt nghiệp đại học, có bằng cử nhân một số ngành xã hội nhân văn hoặc một ngành nghề nào đó, lúc đi tìm việc đã đến và được nhận vào làm biên tập tại Đông Tây. Được hướng dẫn thực hiện việc biên tập các loại bản thảo khác nhau, họ dần dần biết việc, rồi trở nên thạo việc. Một số người, vài ba năm sau sẽ đến lúc rời trung tâm, do được nhận vào làm biên tập viên của một số nhà xuất bản chính ngạch...

Khi tôi tự đề xuất rồi bắt tay thực hiện dự án sưu tầm tác phẩm của tác giả Phan Khôi (1887 – 1959), đến khâu biên soạn thành các tập sách đầu tiên, tôi cũng dựa vào phòng biên tập của trung tâm Đông Tây. Một trong những điều đáng lo lắng là dự kiến sẽ tốn nhiều công sức, tốn nhiều chi phí nữa, vì chưa thể biết ngay từ đầu có thể tìm ở những đâu, phí tổn đi lại, chi phí sao chụp tài liệu ra sao?

Thế rồi vợ chồng Nguyễn Nguyệt Cầm - Peter Zinoman giới thiệu cho tôi tiếp cận với Quỹ Toyota lúc đó mới vào hoạt động tại Việt Nam. Điểm mấu chốt trong thủ tục là người có đơn xin tài trợ phải được một tổ chức giới thiệu. Tôi đem việc này trình bày với lãnh đạo Hội nhà văn thì được anh Cao Tiến Lê (ủy viên chấp hành) và sau đó là anh Hữu Thỉnh (phó tổng thư ký) trả lời: sưu tầm tác phẩm của một tác gia tiêu biểu trong Nhân văn-Giai phẩm như Phan Khôi thì Hội nhà văn không thể đứng ra giới thiệu được.

Tôi đang thất vọng thì Đoàn Tử Huyến bảo: Quỹ Toyota là cơ quan của nước ngoài hỗ trợ hoạt động văn hóa ở nước chủ nhà; đối với họ, các tổ chức ở Việt Nam, dù “quốc doanh” như Hội nhà văn, hay “tư nhân” như Trung tâm Đông Tây của tôi, đều có tư cách pháp nhân như nhau! Anh tin cậy bọn tôi thì bọn tôi sẽ đứng ra giới thiệu. Và Huyến thêm: Nói nhỏ nữa là so với các nơi thì mức “tô” của bọn tôi rất tượng trưng, giúp cho bạn bè có điều kiện làm việc thôi.

Thế là hồ sơ của tôi do Trung tâm VH-NN Đông Tây giới thiệu, cuối cùng, được Quỹ Toyota chấp nhận. Nhờ nguồn tài trợ này, tôi sắm máy ảnh, computer, laptop, tôi cũng có thể thuê nhân viên kỹ thuật làm scaner tại thư viện mỗi lần hàng vài chục trang, là các bài của Phan Khôi tìm thấy trên các trang báo xưa, và nhất là trả tiền giấy in và công in cho các cuốn “Tác phẩm đăng báo 1930”, “Tác phẩm đăng báo 1931”, “Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn”.

Đầu năm 2016, qua tin tức bạn bè, tôi được tin Huyến bị tai biến, gia đình đưa đi cấp cứu rồi chuyển ra Hà Nội. Hôm tôi vào bệnh viện Hữu Nghị thăm Huyến, tôi thấy Huyến vẫn hoạt bát nhanh nhẹn, chỉ khác là không nhận ra tôi vốn là bạn quen hàng chục năm...

Tôi ở phía đông thành phố, cách xa Huyến vài chục cây số, qua bạn bè, được biết tuy trí nhớ Huyến có tiến triển nhưng khá chậm. Qua trang mạng hàng ngày vẫn thấy hình ảnh Huyến với chiếc máy ảnh cầm tay; chỉ thôi không thấy kèm chiếc ba-lô và cây dù gập sẵn, như sẵn sàng lên đường du ngoạn bất cứ lúc nào muốn.

Nào ngờ, Huyến đã vội ra đi, về cõi vĩnh hằng!

Toàn bài viết, dài hơn bản đăng ở đây, đã có mặt trên trang Facebook cá nhân của nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân tại Hà Nội hôm 26/11/2020. BBC trích đăng với sự đồng ý của tác giả.