http://www.bbcvietnamese.com

Một cái nhìn về lịch sử Campuchia

7-1-2004 là kỷ niệm 25 năm ngày chế độ Khmer Đỏ sụp đổ ở Campuchia. Nhân dịp này, tạp chí Văn hóa đọc lại một bài viết sử tìm cách giải thích căn nguyên bi kịch mà đất nước này đã chịu trong nửa cuối thế kỷ 20.

Ralph Smith (1939 - 2000) là giáo sư chuyên ngành lịch sử Đông Nam Á tại trường nghiên cứu phương Đông và châu Phi, London (School of Oriental and African Studies).

Một trong những bài tiểu luận cuối đời của ông, xuất bản năm 1998, có tựa đề “Cambodia” and “Vietnam” in a regional perspective (16th –19 Centuries) [“Campuchia” và “Việt Nam” trong cái nhìn khu vực (thế kỷ 16-19)]

Trong bài này, Ralph Smith cho rằng vấn đề Campuchia thế kỷ 20 cần được nhìn từ góc độ lịch sử cổ xưa hơn (cụ thể là những gì xảy ra từ giữa thế kỷ 16 đến cuối 18) và trong tương quan so sánh với tình hình các nước Đông Nam Á khác trong giai đoạn “tiền thuộc địa”.

Bài viết cung cấp nhiều tư liệu xung quanh mối quan hệ phức tạp giữa Campuchia và các vương quốc láng giềng trong thời kì mà vấn đề cương vực còn chưa ổn định. Có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, và những nghiên cứu sau này có thể giúp khẳng định hay phủ nhận quan điểm của Ralph Smith.

Thời hậu Angkor

Giai đoạn Angkor trong lịch sử Campuchia kéo dài từ đầu thế kỷ Chín đến đầu thế kỷ 15 sau Công nguyên. Giữa thế kỷ 15, sau đợt tàn phá của vương quốc Ayutthaya của Thái Lan, khu vực Angkor chấm dứt thời kì là thủ đô.

Người Khmer thành lập một thủ đô mới cách địa điểm mà ngày nay là Phnom Penh mấy trăm kilômét về phía Đông Nam.

Vua Ang Chan (1516 – 1567) sau đó chuyển thủ đô về Lovek, nằm trên bờ sông Tonle Sap, phía bắc Phnom Penh.

Nhưng năm 1594, vương quốc Ayutthaya một lần nữa tấn công và tàn phá Lovek. Lịch sử Campuchia mô tả sự sụp đổ của Lovek như mở đầu của một thảm họa mà Campuchia không bao giờ vượt qua.

Tại Campuchia, giai đoạn từ 1595 đến 1599 đầy ắp các sự kiện sôi động. Sự sụp đổ của Lovek tạo cơ hội cho sự can thiệp của phương Tây. Tây Ban Nha đã thiết lập sự có mặt của họ ở Đông Nam Á từ trước đó: Manila được thành lập năm 1572. Hai nhân vật chính trong nỗ lực của Tây Ban Nha muốn mở rộng ảnh hưởng xuống lưu vực sông Mêkông là Blas Ruiz de Hernan Gonzales và Diogo Veloso.

Cả hai người này đều đã sống ở Lovek trước khi nó rơi vào tay người Thái. Năm 1596, họ dẫn một nhóm quân Tây Ban Nha quay về Campuchia để phục hưng cho ngôi vua của Satha (vị vua của Campuchia đã chạy trốn khi Lovek sụp đổ.) Họ đặt một đứa con của Satha lên ngôi vua năm 1597. Nhưng mọi hi vọng biến nước này rơi vào ảnh hưởng của Tây Ban Nha tan thành mây khói khi chỉ hai năm sau, đoàn quân Tây Ban Nha bị hạ sát toàn bộ và vị vua mới bị hạ bệ bởi một phe khác có sự ủng hộ của cộng đồng người Mã Lai.

Nếu người Tây Ban Nha đã thành công, nó có thể đã dẫn đến sự phát triển sau này của Phnom Penh như một trung tâm buôn bán mới ở biển Nam Trung Hoa.

Tiềm năng buôn bán

Trong nửa đầu thế kỷ 17, người ta thấy có thêm lý do để xem Campuchia trong giai đoạn này có tiềm năng thuộc về một Đông Nam Á “khu vực biển” thay vì nhất thiết rốt cuộc bị đóng cửa trước các phương thức buôn bán ở biển Nam Trung Hoa.

Một sự ổn định tương đối trở lại với việc thành lập một thủ đô mới tại Oudong của vua Chay Chettha II (giai đoạn 1618-1628). Để cân bằng ảnh hưởng từ vương quốc Ayutthaya của Thái Lan, ông khuyến khích quan hệ với triều đình nhà Nguyễn, và cho phép số lượng nhỏ ngươi Việt đến sống gần nơi sau này là Sài Gòn. Người Hà Lan mở một nhà máy ở Oudong năm 1620, và mặc dù sau đó nhà máy đóng cửa, nhưng các thương nhân nước họ vẫn tiếp tục buôn bán ở đây.

Từ năm 1628 đến 1642, quyền lực tại triều đình Oudong nằm trong tay Hoàng thân Outey. Trong nhiều năm, Oudong hưởng sự độc lập, không lo các sức ép quân sự từ bên ngoài. Người Hà Lan vẫn buôn bán ở Campuchia, cùng người Bồ Đào Nha, Trung Quốc, cùng các thương nhân Việt Nam và Mã Lai. Từ năm 1636, người Hà Lan, theo sau việc Nhật Bản đóng chặt cửa với phương Tây ngoại trừ Hà Lan, đã tìm cách mở rộng hoạt động ở Lovek bằng việc không chỉ mua gạo mà cả các sản phẩm gỗ của Campuchia.

Nhưng đột nhiên năm 1642, hoàng thân Outey và con trai bị lật đổ bởi một phe nhóm có sự ủng hộ của người Chăm và Mã Lai. Vị vua mới, Ram Thupdey Chan (trị vì 1642-1658) lấy một người vợ Mã Lai và cải sang đạo Hồi: một diễn biến nên được xem trong hoàn cảnh cải đạo Hồi, gần như cùng thời, của nhiều người Chăm ở khu vực mà hiện nay là miền trung Việt Nam. Vị vua mới không thân thiện với người Hà Lan và năm 1643, một nhóm người Hà Lan bị bao vây và hạ sát khi họ đặt chân tới Oudong.

Cuộc xung đột chấm dứt việc buôn bán của Hà Lan, và những nỗ lực tái phục hồi sau năm 1654 cũng không thành công. Vào thời điểm này, có thể nói viễn cảnh của một nước Campuchia Hồi giáo là có thể. Cuối cùng, không phải người Hà Lan, mà là Việt Nam, đã ngăn viễn cảnh đó xảy ra. Năm 1658, các con trai còn sống của Outey nổi loạn chống Ram Thupdey Chan, và tạo điều kiện cho nhà Nguyễn trực tiếp can thiệp vào chính trị Campuchia.

Diễn biến sau 1658

Thập niên 1590 cũng đầy biến động tại Việt Nam, nơi hàng thập niên nội chiến giữa nhà Mạc ở Hà Nội và liên minh Trịnh-Nguyễn ở Thanh Hóa đã kết thúc với thất bại của nhà Mạc năm 1592. Năm 1599, tranh chấp giữa Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng khiến Nguyễn Hoàng phải lui khỏi Thăng Long và bắt đầu xây dựng căn cứ riêng về phía Nam. Một phần sức mạnh của những người kế vị Nguyễn Hoàng sau này là việc buôn bán nhộn nhịp tại Hội An. Lợi nhuận từ đây giúp nhà Nguyễn duy trì sự độc lập khỏi nhà Trịnh trong hơn một thế kỷ rưỡi, cũng như mở rộng về khu vực mà khi đó còn là vùng hạ Campuchia (Thủy Chân Lạp).

Khi chúa Trịnh quyết định vào năm 1627 phải thiết lập kiểm soát các tỉnh “phản loạn”, nhiệm vụ này hóa ra khó khăn hơn họ dự liệu. Chiến dịch đầu tiên của nhà Trịnh thất bại, và vào đầu thập niên 1630, phe nhà Nguyễn củng cố sức mạnh phòng thủ với việc xây lũy Đồng Hới ở tỉnh Quảng Bình. Năm 1634, có sự giúp sức của người Bồ Đào Nha, nhà Trịnh vẫn thất bại. Ba năm sau, người Hà Lan buôn bán ở Đông Kinh và kết quả là nhà Trịnh nhờ họ giúp. Nhưng ngay cả sự hỗ trợ này cũng không giúp phía Bắc có lợi thế vào năm 1642-1643 khi một chiến dịch khác phải hủy bỏ sau khi các tàu Hà Lan bị đánh chìm.

Triều đình Nguyễn tiếp tục tồn tại sau các chiến dịch khác trong ba mươi năm kế tiếp, trước khi nhà Trịnh hoàn toàn từ bỏ nỗ lực đánh chiếm. Kết quả của cuộc xung đột này có những tác động sâu sắc cho lịch sử sau đó của cả Việt Nam và Campuchia. Giả sử chúa Trịnh thành công trong việc thống nhất và duy trì thủ đô ở Hà Nội, có lẽ họ sẽ không có nhiều nhu cầu can dự vào chính trị nội bộ tại Oudong; và những người định cư người Việt hướng về nam có thể đã không có sự bảo vệ chính thức khi họ cư ngụ tại vùng Thủy Chân Lạp. Còn khi cuộc xung đột tạm dừng ở thế bất phân thắng bại, nhà Nguyễn có lý do để hướng về nam tìm thêm đất. Sự can dự của triều Nguyễn vào cuộc xung đột quyền lực tại Oudong năm 1658-1659 đánh dấu sự khởi đầu của một sự bành trướng về mặt hành chính.

Kết quả tức thời của sự can thiệp lần một là vua Ang Sor (trị vì 1659-1672) đồng ý nộp triều cống cho triều Nguyễn ở Huế và cấp phép sử dụng đất đầy đủ cho người Việt mà đã định cư ở vùng Thủy Chân Lạp. Vị vua này bị ám sát năm 1672 và các xung đột lại nổ ra, khiến người Việt một lần nữa can thiệp. Kết quả sau đó là có một vị vua mới, Chay Chettha III, tìm cách độc lập khỏi ảnh hưởng nhà Nguyễn. Nhưng nhà Nguyễn lại ủng hộ một triều đình đối địch tại Prey Kor (sau này là Sài Gòn), do Ang Non đứng đầu cho tới năm 1691. Như vậy, đến thập niên 1680, sự kiểm soát của Campuchia tại hạ lưu sông Mêkông đã bắt đầu giảm bớt. Vào thời điểm này, vai trò của người Hoa cũng trở nên quan trọng.

Tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Minh Hương tại vùng Đông Nam Á. Ba nhóm di dân Trung Hoa đến vùng Thủy Chân Lạp vào khoảng năm 1680. Một nhóm của Mạc Cửu được triều đình Campuchia ở Oudong cho phép đặt căn cứ tại Hà Tiên. Hai nhóm khác ban đầu đến triều đình Nguyễn ở Phú Xuân, nhưng được khuyến khích sang sống tại Biên Hòa và Mỹ Tho trong địa phận của hoàng tử Ang Non thân Việt Nam kiểm soát. Không kể sự can dự thỉnh thoảng vào tình hình chính trị Campuchia, thì những người di dân Trung Quốc đã đóng vai trò trong việc phát triển các khu vực của riêng họ độc lập với thủ đô chính của Campuchia, và họ cũng tham dự vào thương mại.

Năm 1693, nhà Nguyễn tiến chiếm nơi mà sau đó là tỉnh Bình Thuận; giờ đây họ sẵn sàng mở rộng quyền kiểm soát hướng về đồng bằng Mêkông. Năm 1699, một sự can thiệp khác vào triều chính Oudong đi kèm với việc kiểm soát Sài Gòn và thiết lập hai tỉnh Biên Hòa và Gia Định. Các diễn biến tương tự dẫn đến việc nhà Nguyễn kiểm soát Mỹ Tho và Vĩnh Long năm 1732; Châu Đốc, Sa Đéc, Trà Vinh và Sóc Trăng năm 1757. Trong khi đó, khoảng năm 1714, người Trung Quốc thành lập Hà Tiên đã từ bỏ sự trung thành với Oudong và bắt đầu cống nạp cho Huế. Hà Tiên lúc này đã trở thành một cảng buôn bán tấp nập. Mặt khác, từ góc nhìn của Campuchia, thì những sự phát triển này đã tạo nên một vương quốc Campuchia phân tán, không tránh khỏi sự can thiệp của Thái Lan và Việt Nam, và -quan trọng nhất – ngày càng bị tách khỏi hoạt động buôn bán trên biển Nam Trung Hoa.

Sự giảm tầm quan trọng của Campuchia, từ góc nhìn Trung Quốc, được phản ánh qua các sứ bộ cống nạp từ các vương quốc Đông Nam Á. Nhà Thanh đã phục hồi hệ thống cống nạp vào thập niên 1660, nhưng đến lúc đó thì Campuchia không còn được xem là một nước đủ tư cách gửi triều cống.

Nhìn về Đông Nam Á thế kỷ 17-18

Kinh nghiệm của Campuchia từ cuối thế kỷ 16 đến cuối thế kỷ 18 không phải là duy nhất tại Đông Nam Á cùng thời kì. Ralph Smith cho rằng hai thế kỷ này – chứ không phải thế kỷ 19 – mới là thời kì hình thành mô hình địa chính trị của khu vực này thời “hiện đại”. Nó áp dụng cho Miến Điện, Xiêm và Việt Nam; và cho cả Philippines, với vai trò của Tây Ban Nha. Ngay cả mô hình thống nhất của nước Indonesia hiện đại cũng có thể được xem là bắt đầu từ những sự kiện thế kỷ 17 và 18.

Trong trường hợp Miến Điện, Xiêm, Việt Nam và Philippines, sự phát triển chủ yếu là sự xuất hiện của một thủ đô duy nhất đủ mạnh để duy trì quyền kiểm soát hành chính vớI toàn bộ khu vực mà sẽ là diện tích “quốc gia”. Một số đặc điểm của sự kiểm soát đó - như các phương tiện liên lạc nhanh chóng, và hình thức kiểm soát tàI chính kiểu phương Tây – chỉ xuất hiện ở giữa thế kỷ 19 hoặc muộn hơn. Nhưng các bước cần thiết cho sự thống nhất đã có từ trước đó. Các bước này đòi hỏi nhà vua (và các cận thần) phải kết hợp cả hai nguồn tài nguyên: một mặt, các vùng sản xuất gạo và cung cấp nhân lực; mặt khác, là lợi nhuận (dưới hình thức thuế hay thậm chí hối lộ) đến từ buôn bán với bên ngoài.

Trong số các vương quốc lâu đời ở vùng Đông Nam Á lục địa, chỉ riêng Campuchia là có độc nhất một nguồn tài nguyên giúp cho sự xuất hiện của một thực thể chính trị “hiện đại”: đó là vùng sản xuất gạo, bao bọc bởi rừng. Campuchia thiếu đi một thành tố khác: một cảng buôn bán lớn, nơi người Hoa và có thể cả các thương nhân châu Âu có thể tham gia hoạt động, và nhờ đó đem lại lợi nhuận cho triều đình bản địa. Cho đến mãi giữa thế kỷ 17, có lẽ Campuchia vẫn còn có thể phát triển và mở rộng buôn bán đường biển. Nhưng sau đó, một loạt các yếu tố đã khiến cho khả năng đó không thành. Đến giữa thế kỷ 19, người Anh và Pháp quan tâm nhiều hơn đến các cảng của Xiêm và Việt Nam; Campuchia chỉ còn là một “lối đi sau” dẫn vào Trung Quốc thông qua sông Mêkông.

Ralph Smith kết thúc bài tiểu luận rằng: “Đôi khi người ta nói việc Pháp lập chế độ bảo hộ ở Campuchia năm 1863 đã “cứu” Campuchia khỏi sự diệt vong hoàn toàn bởi các láng giềng. Nhưng người ta có thể phản bác rằng quyết định của Pháp lập cảng Sài Gòn sau năm 1860 là một giọt nước tràn ly, hủy bỏ mọi viễn cảnh lâu dài về một nước Campuchia thật sự độc lập.”

.......................................................................................................

Toàn văn bài tiểu luận của Ralph Smith in trong quyển Guerre et paix en Asie du Sud-Est, do Nguyễn Thế Anh và Alain Forest hiệu đính, Paris, Editions L'Harmattan, 1998.

.......................................................................................................

Người Việt, TP. HCM

Quan hệ Việt Nam và Cam-pu-chia có nhiều vấn dề cực kì phức tạp. Đã có lúc chính quyền phong kiến Việt Nam "đô hộ" Cam-pu-chia như Trung Quốc từng làm với Việt Nam...Tên gọi các địa phương và quần áo đều phải theo Việt Nam.Có những trận chiến người chiến thắng lấy đầu chiến binh Cam-pu-chia làm ông táo nấu cơm ..Những vấn đề này đều có trong sách sử ...Còn sách giáo khoa phổ thông thì làm sao có được. Khi ta đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí đều ngậm ngùi cho hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của ta trước đây và ước ao giá như Quang Trung sống thêm vài năm nữa...Nhưng tất cả đều đã yên bài rồi, không ai có thể thay đổi được nữa. Nhưng Raph Smith có một nhận xét rất "thực dân" khi cho rằng việc Pháp lập cảng Sài Gòn là huỷ bỏ viễn cảnh (lâu dài) của một nước Cam-pu-chia.

Trần Pháp, Đắk Lắk

Tôi đã học lich sử từ phổ thông và hiện nay tôi đang công tác tai Trường ĐH Bách Khoa TP.HCM, nhưng nói thật những thông tin này cho đến nay tôi mới biết, rất mong quý đài đăng tải thêm nhiều thông tin mang tính lịch sử về Việt Nam hơn nữa.

Nguyễn Toản, Hoa Kỳ

Tuyệt diệu! Tôi từng ao ước được đọc những tài liệu như thế này để hiểu lịch sử của Việt Nam, đặc biệt là miền Nam Việt Nam như trong bài nầy viết đến. Ước mong Ban Biên Tập sẽ đăng tiếp những tài liệu lịch sử với cái nhìn khách quan của các sử gia ngoại quốc để giúp người Việt trong và ngoài nước hiểu rỏ hơn về cái đất nước mà chúng ta nặng tình thương yêu nhưng đối với anh em trong nhà thì đầy nghi kỵ, giận hờn. Ðôi khi chúng ta quí món đồ nầy hơn món đồ khác chỉ vì chúng ta hiểu giá trị của nó. Tổ quốc là báu vật ngàn năm, mất rồi thì lấy máu của cả dân tộc cũng chưa chắc lấy lại được.

Tin tức quốc tế hàng ngày đầy những tin chết chóc của những người đang dùng máu của chính họ để đòi lại quê hươn! g của họ ở nhiều quốc gia khác nhau. Ðất nước VN ngày nay lại trở thành nơi yên bình nhất thế giới. Những người Việt chúng ta đều khó tưởng tượng nổi có một ngày như vậy. Thế nhưng nếu có những người coi rẻ hoặc chối bỏ chỉ vì họ không hiểu giá trị hoặc công sức mà những người đi trước đã hy sinh đễ có được những mảnh đất mà ngày nay chúng ta gọi là quê hương. Thế nên chúng ta cần phải hiểu rõ để có thể thương yêu và ra sức gìn giữ. Người Do Thái bỏ quê hương mà đi, rồi đến ngày trở lại thì vô cùng vất vả để dựng nước và giữ nước. Tiền bạc tài năng thì họ có thừa nhưng một ngày hòa bình thì không dễ kiếm.