BBCVietnamese.com

19 Tháng 2 2004 - Cập nhật 18h20 GMT

Lê Quỳnh
Trang Văn hóa ban Việt ngữ đài BBC

Chuyển giao quân sự:Trường hợp nhà Nguyễn

Năm 1839, Việt Nam mua con tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi.

Đáng lưu ý là ngay cả người Pháp, cho đến trước năm 1816-1818, còn chưa dùng tàu hơi nước cho các sứ mạng thương mại. Đến cuối thập niên 1820, các hạm đội Anh và Pháp mới đặt hàng các tàu hơi nước đầu tiên.

Trong khu vực, đến thập niên 1830, vua Rama III của Thái Lan mới quyết định chỉ dùng toàn mô hình châu Âu cho hạm đội nhà nước Thái. Tức là trong khi người Thái mới bắt đầu nói về tàu kiểu Tây phương, thì Việt Nam đã mua tàu chạy bằng hơi nước.

Đây là một trong vài ví dụ nêu ra trong bài viết của Frédéric Mantienne, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (Đại học quốc gia Singapore, số tháng Mười 2003).

Frédéric Mantienne, làm việc tại Laboratoire Péninsule Indochinoise thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ, Paris, là tác giả quyển “Les relations politiques et commerciales entre La France et la Peninsule Indochinoise” (2001). Quyển sách nói về quan hệ trong thế kỷ 17-18 giữa Pháp và các nước thuộc bán đảo Đông Dương và các vùng phụ cận: Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Miến Điện.

Tiếp tục loạt bài giới thiệu các nghiên cứu mới về chuyển giao quân sự từ ngoài vào Việt Nam, chúng tôi xin tóm tắt nội dung chính bài viết của Frédéric Mantienne có tựa đề “The Transfer of Western Military Technology to Vietnam in the Late 18th and early 19th centuries: The case of the Nguyễn.”

Click vào đây để đọc tiếp phần hai bài viết

Nội chiến thế kỷ 18
Mặc dù các chúa Trịnh và Nguyễn rất nhiệt tình trong việc thu lượm các súng kiểu phương Tây trong thế kỷ 17, nhưng có vẻ họ ít quan tâm đến các công nghệ liên quan việc đắp đồn lũy và đóng tàu. Việc ‘nhập khẩu’ công nghệ quân sự phương Tây chỉ trở nên đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến Tây Sơn. Sau một chiến thắng chủ chốt của Tây Sơn năm 1773, và cái chết sau đó của hầu hết các hoàng tử nhà Nguyễn, người cuối cùng còn lại – Nguyễn Ánh – bị buộc chạy sâu vào trong đồng bằng sông Cửu Long. Trong năm 1776 hoặc 1777, vị hoàng tử trẻ làm quen với một nhà truyền giáo Pháp, Pierre Pigneaux de Béhaine (tức Bá Đa Lộc), linh mục xứ Adran, lúc đó đang sống ở Hà Tiên. Pigneaux thuyết phục vị hoàng tử nhà Nguyễn là ông chỉ có thể là đối trọng với sức mạnh Tây Sơn bằng cách sử dụng thiết bị và chiến thuật của châu Âu.

Bước ngoặt bắt đầu với chuyến đi của Pigneaux đến Pondicherry và sau đó là đến Pháp giữa năm 1785 và 1789. Ở đó vị cha xứ ký một hiệp ước quân sự với triều đình Pháp nhân danh Nguyễn Ánh. Nhưng cuối cùng ông không thuyết phục được triều đình Pháp thực thi hiệp ước. Dẫu vậy, ông linh mục cũng quyên đủ tiền và khiến người Pháp đủ quan tâm tới tương lai Nguyễn Ánh để tập hợp nhiều chuyến hàng vũ khí, đạn dược xuất xứ từ Pondicherry và Mauritius. Nhiều thuyền lớn cập cảng tại Đàng Trong và được Nguyễn Ánh thuê cùng với thủy thủ đoàn, cùng một số sĩ quan Pháp được giáo sĩ thuyết phục tham gia. Đa số những người Tây phương này là thủy thủ, nhưng có hai người là chuyên viên quân sự quen thuộc với đạn pháo và các kỹ thuật xây đồn lũy. Trước nay nhiều người thường khẳng định có tới khoảng 400 người Pháp phục vụ trong quân đội Nguyễn Ánh, nhưng con số này đã bị phóng đại nhiều. Dựa trên các nguồn tư liệu của Pháp đương thời, theo Frédéric Mantienne, ta có thể cho rằng có không quá 100 người Pháp tại Đàng Trong̣ trước năm 1792, và sau năm đó thì chỉ còn vài người ở lại – khoảng 12 sĩ quan và một số lính tráng. Trong những năm 1799-1802, khi chiến tranh ở giai đoạn ác liệt nhất, chỉ còn sáu sĩ quan hải quân còn ở lại Đàng Trong. Vì thế không thể nói tự thân những người Pháp một tay thay đổi chiến cuộc. Tuy nhiên, họ đã dạy lại cho quân đội Nguyễn Ánh các kỹ thuật mới và chia sẻ kỹ thuật tác chiến mà cho phép quân thủy bộ nhà Nguyễn trở thành đối trọng của quân Tây Sơn.

Các công nghệ châu Âu trong việc đắp đồn lũy và đóng tàu trong mấy thập niên cuối của thế kỷ 18 đã kéo dài trong thời gian sau đó trong lịch sử Việt Nam. Chúng tiếp tục được áp dụng và cải tiến trong thời Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Bài viết của Frédéric Mantienne chủ yếu tập trung vào ba triều đại này.

Xây đồn lũy
Nghệ thuật xây thành đắp lũy đã có từ rất xưa ở Việt Nam. Ngôi thành lớn xưa nhất là thủ đô của An Dương Vương tại Cổ Loa, cách trung tâm Hà Nội 15 cây số. Đến cuối thế kỷ 14, Hồ Quý Ly cho xây thành Tây Đô ở tỉnh Thanh Hóa. Trong thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông lệnh cho xây nhiều thành ở Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Hới. Một số thành tại Hà Nội và Thanh Hóa được dựa trên mô hình thành Trung Hoa hình vuông, còn các thành trong khu vực rừng núi xây theo mô hình rừng núi, tương tự như Vạn Lý Trường Thành. Sang thế kỷ 17, các chúa Nguyễn xây một hệ thống phòng thủ phức tạp trên vùng ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài để chống các đợt chinh phạt của nhà Trịnh từ Đàng Ngoài. Hệ thống này gồm nhiều lũy (Trương Dực và Đồng Hới), dài khoảng 10 cây số, với một pháo đài ở Dinh Muôi, nơi tập trung bản doanh, kho thóc và bộ máy hành chính tỉnh Quảng Bình. Lũy Đồng Hới đánh dấu biên giới giữa hai vương quốc đất Việt, hiệu quả đến mức sau nhiều cuộc tấn công không thành của nhà Trịnh, hai vùng ở trong tình trạng tạm yên ắng trong một trăm năm.

Như thế nghệ thuật xây thành đắp lũy của người Việt khi ấy chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn của Trung Quốc, theo hình vuông hoặc chữ nhật. Sau khi chiến tranh Trịnh-Nguyễn chính thức chấm dứt năm 1672, có ít bằng chứng để nói có các đợt xây dựng mới nhằm mục đích quân sự. Tuy nhiên, đến thế kỷ 18, cuộc chiến Tây Sơn làm sống lại tầm quan trọng của việc xây thành, với các bên đối nghịch thực thi các cuộc vây thành và xây đồn lũy mới. Tây Sơn củng cố thành đô của họ ở Chà Bàn, gần cảng Thị Nại, phía bắc Quy Nhơn. Trong lúc đó, Nguyễn Ánh biến Sài Gòn thành thủ đô; thành phố và khu vực xung quanh nó được biết đến với tên Gia Định. Cứ mỗi mùa xuân, Tây Sơn đưa đại quân và thuyền chiến đánh tràn vào Gia Định. Lực lượng Nguyễn Ánh liên tục bị đánh bại, và vị lãnh đạo có lúc phải bôn tẩu cả ra nước ngoài.

Đến tháng Bảy 1789, Bá Đa Lộc trở về Sài Gòn từ Pháp. Một trong các bước đầu tiên của Nguyễn Ánh là yêu cầu các sĩ quan Pháp dựng đề án, và giám sát việc xây đắp, một tòa thành hiện đại theo kiểu châu Âu tại Sài Gòn. Đề án do Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel lập ra, và 30.000 người được huy động để xây thành. Thành này làm bằng đá; chu vi khoảng 4.176 mét. Sébastien Le Prestre (1633-1707), bá tước xứ Vauban, đã xây dựng, tái thiết hơn 300 thành lũy tại Pháp và các ý tưởng của ông về việc xây thành được châu Âu áp dụng trong hơn một thế kỷ. Và thành Sài Gòn được xây dựa trên mô hình Vauban. Tuy vậy, thành này lại thường được mô tả như có phong cách ‘Trung Quốc’, xây hình bát giác, với tám cổng thành. (Trong bài viết, Frédéric Mantienne sử dụng hai tấm bản đồ Sài Gòn làm năm 1799 và 1815, cộng thêm quan sát của người nước ngoài để chứng minh thành Sài Gòn được xây dựa trên mô hình châu Âu.)

Tòa thành Sài Gòn đóng vai trò quan trọng cho Nguyễn Ánh; khi nó hoàn thành năm 1790, ông có một cứ địa vững tại miền Nam, và từ thời điểm đó, quân Tây Sơn không còn có thêm nỗ lực chiếm Sài Gòn nữa. Việc xây thành cho phép Nguyễn Ánh bắt đầu không chỉ nghĩ đến việc phòng thủ mà cả tái chinh phục; vì như đoạn sau sẽ trình bày, việc phòng thủ dựa trên gạch đá, nhưng cũng dựa vào gió mùa, tức thủy quân. Ta cần nhớ mỗi năm thủy quân của Nguyễn Ánh thường rời Gia Định và hướng về bắc trong tháng Sáu-Bảy – khi gió mùa thổi từ mạn tây nam – để gia nhập lực lượng lục quân đóng trên lãnh địa Tây Sơn và tổ chức tấn công. Khi gió đổi hướng, thủy quân buộc phải quay về nam, sử dụng gió thổi từ mạn đông bắc.

Năm 1794, sau một chiến dịch thành công ở Nha Trang, thay vì quay về nam trước lúc gió mùa chuyển hướng, Nguyễn Ánh lại xây một thành ở Diên Khánh, gần Nha Trang. Được de Puymanel xây, tòa thành do hoàng tử Cảnh, con Nguyễn Ánh, trấn thủ với sự giúp đỡ của linh mục xứ Adran và de Puymanel. Quân Tây Sơn vây thành tháng Năm 1794, nhưng không chiếm được. Ngay sau khi cuộc bủa vây kết thúc, quân nhà Nguyễn từ Sài Gòn quay lại Nha Trang và tái tục hoạt động quân sự ở khu vực này. Lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh bắt đầu, quân Nguyễn Ánh có thể ở lại trong mùa thời tiết xấu tại một khu vực mà trước đó vẫn thuộc Tây Sơn. Vì thế các thành Sài Gòn và Diên Khánh đóng vai trò rất quan trọng trong thành công của Nguyễn Ánh. Tầm quan trọng không hẳn mang tính quân sự - mặc dù trận vây Diên Khánh là một trận lớn – mà chủ yếu mang tính tâm lý: Sài Gòn có vị trí như một đại bản doanh mạnh, còn Diên Khánh là cái gai ngay trong da thịt Tây Sơn.

Đến khi chiến tranh kết thúc và Gia Long thống nhất Việt Nam (theo nghĩa một Việt Nam về mặt địa lý mà ta biết hiện nay), chỉ mới có hai tòa thành được xây dưới sự giám sát của người Pháp. Nhưng rõ ràng Gia Long và Minh Mạng tin tưởng tính hiệu quả của chúng, vì thời kì hòa bình sẽ chứng kiến việc xây cất 32 tòa thành kiểu Vauban trong năm 1802 đến 1844: 11 thành dưới thời Gia Long, 20 dưới thời Minh Mạng và một khi Thiệu Trị lên ngôi. Các thành mới trải dài từ bắc đến nam, từ Cao Bằng đến Hà Tiên.

Tuy vậy, dưới thời Minh Mạng, hình thù các tòa thành mới xây được chuyển sang hình vuông hoặc chữ nhật, với bốn tòa tháp ở các góc mà thôi. Thành Sài Gòn là một ví dụ: Xây năm 1790 theo mô hình Vauban, nó bị phá bỏ năm 1835 sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi. Ngay sau đó, Minh Mạng cho xây thành mới, lần này có thiết kế giản dị hơn, hình vuông với chỉ bốn tháp canh.

Liệu có thể kết luận mô hình châu Âu đã bị từ bỏ để thay bằng hình mẫu Trung Hoa truyền thống? Có người đã khẳng định khi không còn sự trợ giúp của các cố vấn châu Âu, những kỹ sư Việt Nam không còn có thể xây theo các mô hình châu Âu và điều này giải thích cho sự trở lại của mô hình cổ điển Trung Hoa. Thế nhưng một điều thú vị ở đây: các thành mới xây dựng sau năm 1822 thực tế được thiết kế theo các cải tiến mới nhất trong việc xây thành đang diễn ra tại châu Âu vào lúc đó. Cũng lấy ví dụ từ thành Sài Gòn xây lại năm 1836: nó có hình thức chữ nhật, với các tháp canh lớn ở bốn góc. Các tháp canh bên ngoài, tiêu biểu cho mô hình Vauban từ thời các cỗ pháo có tầm bắn ngắn hơn, đã không còn được dùng. Vẻ ngoài của thành rất giống các pháo đài xây tại Pháp dưới thời Đệ nhất đế chế (1804-1814). Nó nhắc người ta về pháo đài Liédot trên bờ biển Thái Bình Dương và đa số các pháo đài được xây sau đó, gồm cả các pháo đài quanh Paris sau năm 1840. Trong thập niên 1830 và 1840, cũng các pháo đài, thành lũy kiểu tương tự được xây tại cả Việt Nam và châu Âu. Các kỹ sư Việt Nam, tưởng như phải đơn giản hóa cách xây kiểu Vauban vì nó phức tạp quá, hóa ra lại đi theo những kỹ thuật tân tiến nhất của châu Âu.

Một ví dụ khác của việc áp dụng kỹ thuật mới được Finlayson cung cấp. Ông này đến thăm Huế năm 1822 và ngạc nhiên về tòa thành, lúc đó đang xây dở dang. Ông viết: “Phần bờ tường này đã được xây xong, rất hoàn chỉnh. Nhưng vị vua đương thời Minh Mạng không hài lòng với các nguyên tắc Vauban. Ông xây các lỗ châu mai theo một đề án của riêng ông. Trật tự của chúng đổi ngược lại, tức là càng tiến về hào thì các lỗ châu mai càng hẹp hơn, và càng hướng về thành lũy thì chúng rộng ra.”

Cả hai ví dụ trên biểu lộ rằng các kỹ sư của Minh Mạng nắm vững các diễn biến mới nhất trong nghệ thuật xây thành ở châu Âu và áp dụng ngay vào Việt Nam. Chúng ta có thể nghĩ rằng thông tin mới đã được cung cấp bởi Jean-Baptiste Chaigneau, một trong hai sĩ quan hải quân ở lại Huế sau khi chiến tranh chấm dứt, vì ông quay lại Pháp năm 1819 và hai năm sau trở lại Việt Nam. Người ta biết ông mang về nhiều quyển sách do Gia Long đặt mua, gồm các nghiên cứu khoa học kỹ thuật mới nhất. Vai trò của Chaigneau trong việc cung cấp các sách mới nhất được thể hiện qua việc các tòa thành do Gia Long xây (trước lú Chaigneau đi Pháp năm 1819) được xây theo kiểu Vauban, nhưng khi ông quay lại Việt Nam dưới thời Minh Mạng, tất cả các tòa thành mà người ta còn giữ được bản vẽ đều theo kiểu hình vuông.

Tòa thành Sài Gòn được xây dưới sự hướng dẫn của Puymanel và Lebrun, còn Diên Khánh có sự chỉ đạo của Puymanel. Hai sĩ quan này rời Việt Nam ngay trước khi chiến tranh kết thúc. Khi Gia Long bắt đầu xây thêm thành sau năm 1802, chỉ còn bốn người Pháp có mặt ở Việt Nam – một bác sĩ và ba sĩ quan hải quân – và không có bằng chứng để nói họ liên quan việc xây các thành mới. Các tài liệu còn lại xác nhận các kĩ sư Việt Nam tự mình vẽ đồ án và giám sát việc thi công. Họ đã được Lebrun và Puymanel dạy nghệ thuật xây thành kiểu Vauban, và họ cũng có các quyển sách và bức tranh do cha xứ Adran dịch lại. Chắc chắn chúng được dùng để huấn luyện các kĩ sư người Việt. Một quân đoàn đặc biệt cũng được thành lập để xây cất và bảo dưỡng các thành mới; việc tạo ra ‘văn phòng’ Giám thành (coi sóc thành) chứng tỏ tầm quan trọng mà Gia Long dành cho vấn đề này.

Việc giới thiệu các nguyên tắc Vauban vào Việt Nam cuối thế kỷ 18 tạo nên thay đổi lớn trong nghệ thuật xây thành của người Việt. Mặc dù các kỹ sư Việt Nam được người Pháp truyền dạy, nhưng sau đó họ tự mình quản lý việc xây thành không cần nước ngoài giúp. Theo Frédéric Mantienne, lúc đó các tòa thành ở Việt Nam được xem là độc đáo tại châu Á, tính cả các thuộc địa của phương Tây. Các kỹ sư Việt Nam biến đổi kỹ thuật học được cho phù hợp môi trường địa phương và nắm bắt những diễn biến mới tại châu Âu. Từ cuối thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 19, họ áp dụng các kỹ thuật tiên tiến châu Âu vào lĩnh vực xây thành. Để so sánh, viên tùy viên Pháp tháp tùng đoàn quân Anh-Pháp tấn công Trung Quốc năm 1860 đã xem xét cách phòng thủ ở các thành lũy và các pháo đài bảo vệ Thiên Tân. Ông ghi lại rằng người Trung Quốc vẫn còn ở trình độ thô sơ trong việc xây thành, chưa chắc tương đương châu Âu thời Trung Cổ trong việc phòng thủ và tấn công các điểm dinh lũy.

Sau cuộc chiến Tây Sơn, các tòa thành kiểu châu Âu xây trong thời bình trở thành biểu tượng, và là dinh cơ, của quyền lực vương triều, vì đại diện cấp tỉnh của triều đình sống trong đó. Chắc chắn mạng lưới thành lũy khắp toàn quốc đã giúp nhà Nguyễn củng cố chế độ mới vì thành lũy là công cụ giúp đẩy lui các cuộc nổi loạn nổ ra. Nhà Nguyễn hiểu rõ công dụng của thành lũy trong việc xây dựng một nhà nước tập trung hùng mạnh – một điều mà các vương triều châu Âu từ lâu đã biết.

Vậy còn thủy quân và việc đóng thuyền? Click vào đây để đọc tiếp phần hai bài viết