Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
08 Tháng 8 2005 - Cập nhật 10h25 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Hà Nam quê tôi
 
Một trong những nhà sử học nổi tiếng nhất của Việt Nam, ông Trần Quốc Vượng, đã qua đời, thọ 71 tuổi.

Tin từ Việt Nam cho biết giáo sư Trần Quốc Vượng đã nằm viện một tháng nay vì căn bệnh ung thư thực quản.

Ông qua đời vào lúc 2h55 sáng nay.

Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng 12-8 ở Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, Hà Nội.

Là tác giả của hàng chục đầu sách và nhiều bài viết, từ nhiều thập niên qua, ông được xem là một trong những nhà khảo cổ học và nghiên cứu sử Việt Nam hàng đầu.

Để tưởng nhớ ông, chúng tôi xin đăng lại trích đoạn một bài viết gần đây của giáo sư Trần Quốc Vượng, có tựa đề ''Hà Nam quê tôi''.

Bài này vốn để dự Hội thảo khoa học "Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn", tổ chức giữa tháng Năm năm nay ở Hà Nội.

Hà Nam không phải là nơi "chôn rau cắt rốn" của tôi - tôi sinh ra trên đất đầu núi Kinh Môn một tối mùa Đông buốt giá và rơi vào định mệnh "ngọn lửa đầu non".

Hà Nam cũng không phải là nơi tôi "trở thành chính mình", thành Trần Quốc Vượng. Quyền năng trên cao và dưới trần đã quy giản cái không gian văn hoá của tôi là vùng trời - đất Đại học Quốc gia Hà Nội, học ở đấy, rồi dạy ở đấy, đến nay đã 45 năm tròn.

Tô Hoài bảo: mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu đều có một vùng đất làm ăn, lấy tư liệu, đi đi lại lại, để từ cái riêng suy ngẫm ra một cái gì chung của Đất nước. Với các bạn tôi, Từ Chi chẳng hạn, đó là cái xứ Mường, Đoàn Giỏi, Sơn Nam là "đất rừng Phương Nam - U Minh thượng, hạ"…

Một số tác phẩm của Trần Quốc Vượng
Danh nhân Hà Nội (chủ biên)
Cơ sở khảo cổ học
Cơ sở văn hoá học
Theo dòng lịch sử
Việt Nam, cái nhìn địa văn hoá
Văn hoá Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm

Tôi là kẻ phiêu lãng, lãng du Bắc - Trung - Nam, viết tiểu ký, tạp lục nhăng nhít, và nói như Vương Hồng Sển, "hơn nửa đời hư" song nghiệm ra vẫn còn chút gì luyến lưu, đọng lại ở Cổ Loa thời tam thập, ở Hội An thời "tri thiên mệnh" và đặc biệt ở Hà Nội, cái cối xay của con gà què quanh quẩn…

Hà Nam là một góc rất khắc trong tâm thức tôi. Đấy là một phức Quê Cha - Đất Mẹ để hồi niệm, nhung nhớ "những ngày thơ ấu", "những ngày kháng chiến 9 năm" tản cư đánh giặc, và khi mái tóc đã nhuốm màu sương khói mùa thu, khi Văn Cao "ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng, khi chiều chiều Dân gian quê tôi" "ra đứng cổng chùa" "trông lên Hà Nội" thì tôi, theo quy trình "đường trở về", từ mảnh đất núi Nùng, sông Tô thi thoảng vời trông về Quê Mẹ Quê Cha mà không sao ngăn nổi "ruột đau chín chiều"! Biết làm sao được, với những va đập tâm linh, ảnh xạ và nội tâm hoá những va đập của cuộc đời, phần nhiều là vô thức.

[...]

Giới địa - văn hoá học ngày nay - mà tôi là một thành viên chầu rìa bên lề mép - xếp Hà Nam quê tôi, quê hương cụ Tam nguyên Yên Đổ, cụ Nghè Châu Cầu Bùi Dị, cụ Kép Trà, cụ Cử Kiến, cụ Cử Văn Ấp, cụ Tú Trần… vào ô trũng tứ giác nước: sông Hồng (Đông) - sông Đáy (Tây) - sông Châu (Bắc) - sông Vị Hoàng (Nam)…

Đấy là một vùng châu thổ tích tụ trũng phù sa mới xen đồi sót, một cái trũng vừa tự nhiên vừa nhân vi, bao quanh bởi đê sông Châu, sông Hồng, sông Đáy, sông Nam Định… Đấy là vùng sinh thái đồng chiêm trũng điển hình ngày trước - nơi con người đất Việt trời Nam, Sơn Nam "sống ngâm da, chết ngâm xương" xưa kia (ô 29 trong bản đồ cảnh quan châu thổ sông Hồng tỉ lệ 1:100.000), nơi có những đàn bà "hay lam, hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng" theo chữ của cụ Hoàng và Nguyễn Khuyến, vùng cụ Kép Trà gọi là đồng cò trắng…

Ông tôi ở cuối mùa quân chủ - Nho thích hỏi Núi; tôi ở đầu mùa dân chủ - Mácxít thích hỏi Người. Hỏi người và học - hỏi - hiểu - hành qua khảo cổ các sản phẩm văn hoá của con người.

Con người và những sản phẩm văn hoá của nó thì đầu tiên đã tìm thấy dọc dài những hang động của hai bên dải núi đá vôi 99
ngọn chạy dài từ Tản Viên - Viên Nam trở xuống Gia Viễn, Ninh Bình, sườn Tây (Hoà Bình) đậm đặc hơn, sườn Đông (Hà Tây - Hà Nam) rải rác hơn, song đều là một nền văn hoá thung lũng Hoà Bình - Bắc Sơn, tuổi vạn năm đầu thời cách mạng Đá Mới của những dân cư Đen - Vàng tiền Việt Mường. Nếu được phép, tôi sẽ khuyến nghị lãnh đạo Hà Nam ký hợp đồng mời các nhà khoa học về vài năm, xuôi thuyền dọc sông Đáy, thăm thú các hang động dọc dài Kim Bảng - Ba Sao - Bồng Lạng - Chi Nê cùng các thung mơ, vườn cà phê tại các đồn điền Le Breton, Borel, Đỗ Đình Thiện cũ... Tôi đoán chắc với 3 mùa điền dã trước một dự án tiền khả thi về Xí nghiệp Xi măng Bút Sơn như thế, Hà Nam sẽ có một sưu tập rất quý về Thời đồ đá của cư dân sinh sống ở rìa tây nam châu thổ sông Châu - Đáy, Nhuệ - Hồng...

Vùng ven núi ven đồi sót Kim Bảng, Thanh Liêm, Duy Tiên - Bình Lục và cả trung tâm Nam Xang (Xương) - Lý Nhân đã trở thành một vùng văn hoá Đông Sơn miền trũng từ trước sau hai ngàn năm cách ngày nay. Ai cũng đã biết những phát hiện nổi tiếng về trống đồng Ngọc Lũ, núi Đọi, Yên Bắc, Bạch Thượng, Vũ Bị...

Trống Ngọc Lũ Hà Nam đã trở thành biểu tượng của Văn hiến Việt Nam đặt giữa toà lâu đài Liên hợp quốc ở New York - Hoa Kỳ. Trớ trêu thay, một phiên bản ít triệu đồng của nó cho đến nay không hề có mặt ở thị xã Hà Nam, ở núi Đọi cho con cháu Hà Nam thi thoảng đến xem và học hỏi cha ông. Tiết kiệm ư? Tôi nghĩ, chỉ cần chống tham nhũng ở một địa phương nào đó một năm thôi, thu hồi lại tài sản xã hội chủ nghĩa bị lũ mọt dân làm thất thoát, theo tôi, cũng thừa sức làm nhà truyền thống miền chiêm trũng Sơn Nam ở thị xã, ở núi Đọi với một phức trống - thạp đồng đúc lại. Và những quan tài hình thuyền với đồ đồng, đồ sơn, cả một chiếc cày chìa vôi Thanh Sơn - Châu Sơn (đều thuộc Kim Bảng) đủ sức hấp dẫn hàng vạn du khách, nhà du khảo trong, ngoài nước. Có điều, ngành Văn hoá - Du lịch Hà Nam chưa biết "làm ăn" hay chưa được "bật đèn xanh" để phát triển đó thôi! Ai đời, cho đến nay, Đọi Sơn là vùng di tích phát hiện được nhiều sọ cổ chủ nhân văn minh Đông Sơn - Âu Lạc - Việt cổ nguyên vẹn nhất của cả nước, với quan tài gỗ hình thuyền được định niên đại bằng C14 chính xác nhất (Ž2.000 năm cách ngày nay) mà vẫn còn đang "xếp xó" ở rìa toà nhà mới của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hà Nội!

Tôi không phải là một dân kẻ quê Châu Giang - núi Đọi để nói vơ vào cho quê hương tôi, để cố tìm ra là quê tôi cũng có một ông Vua: Vua anh hùng Lê Hoàn thắng giặc xâm lược Tống. Từ đầu thập kỷ 80, khi Thanh Hoá giương ngọn cờ Ba Nhất, người ta đổ xô vào xứ Thanh ca ngợi; xứ Thanh đã có Lệ Hải bà vương (Bà Triệu), có vua Lê chúa Trịnh, chúa Nguyễn rồi vua Nguyễn nữa… mà người ta còn "nỡ lòng" đưa cả Tiền Lê Đại Hành hoàng đế cho lấy xứ Thanh làm quê hương! Ngay khi đó - khi có mỗi một tỉnh Hà - Nam - Ninh, tôi đã nói ở "Hội thảo khoa học về quê hương Lê Hoàn" (1982) rằng: "Nói xứ Thanh là quê ngoại Lê Hoàn hay là quê bố nuôi Lê Hoàn thì tạm nghe được. Còn quý vị nào nói xứ Thanh là quê hương Lê Hoàn thì xin hãy dè chừng…".

Tôi nói vậy, không vì nổi trội lên ở trong tôi khi đó một tình cảm địa phương chủ nghĩa (tuy nói cho cùng, cái cảm thức địa phương rồi sa đà vào địa phương chủ nghĩa thì bao giờ cũng có thật) mà là một cảm thức khác, tạm gọi là khoa học. Mà khoa học thì cần trước hết là sự khách quan. Khách quan là ở Ninh Thái - Bảo Thái Thanh Liêm có cả một khu mộ tổ Lê Hoàn, có đền thờ Tổ, có nhiều di tích hữu thể khác liên quan mật thiết đến nhà Tiền Lê (xem bài của Nguyễn Minh Tường và nhiều người khác trên Tạp chí Sông Châu).

Tôi chỉ xin nhấn mạnh một điểm: Trần Bình Trọng - tức Bảo Nghĩa vương là người gốc họ Lê, ở quê nay là xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, dòng dõi Lê Đại Hành, được vua Trần tin yêu, ban quốc tính và phong Bảo Nghĩa hầu, người "quyết tử" ở khúc sông Thiên Mạc (một đoạn sông Châu chảy qua vùng Mạc Xá Châu Giang…) với lời nói bất tử: "Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương xứ Bắc!". Huống chi, Lê Đại Hành còn về Đọi sơn cày ruộng, tịch điền!

Ở Thanh Liêm, cái "trũng" này còn đọng biết bao huyền tích mà đa phần gắn bó với thân phận của nhà Tiền Lê. Đó là "văn hóa Liễu Đôi", là bản trường ca "Hoàn vương sự tích" mà Bùi Văn Cường - Nguyễn Tế Nhị, cặp bài trùng tác giả Văn hóa Liễu Đôi vừa tìm thấy và vừa được giải thưởng lớn của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Đó là phần văn hóa vô thể của không gian văn hóa Lê Đại Hành tại Hà Nam.

Nếu có ai hỏi tôi về một nét bản sắc khác của tiểu vùng văn hóa Hà Nam là gì, chắc chắn tôi sẽ dẫn ra Đền nàng Mỵ Ê ở Lý Nhân, cái nhân cách của người cung phi xứ Chăm pa đó đã được nâng cao lên thành nhân cách cao cả trong sạch của phụ nữ nói chung và được "thiêng hóa" khi dân gian Hà Nam lập đền thờ và cho đến nay vẫn phụng thờ. Nhân cách phụ nữ lại được bi kịch hóa một lần nữa trong câu chuyện Vợ chàng Trương hàm ẩn một triết lý dân gian rất tuyệt vời "Là bóng hay là hình?" - người đàn bà Việt đã tự phân đôi mình thành cặp vợ chồng quấn quýt nhau như hình với bóng, trong khi đó ở tầng dưới của câu chuyện là cái dại khờ ghen tuông vớ vẩn gây chết người của người đàn ông Việt Nam. Câu chuyện của Người thiếu phụ Nam Xang (La jeune dame de Nam Xang) từ lâu đã được thạc sĩ ngôn ngữ học Phạm Duy Khiêm kể lại bằng tiếng Pháp và được dịch lại bằng tiếng Anh, từ đó hội nhập vào dòng nhân văn của nền văn chương thế giới. Câu chuyện này cũng đã được dựng thành phim ở Pháp. Mà đó rốt cùng là văn hóa dân gian vô thể, được hữu thể hóa bằng ngôi miếu Vợ chàng Trương hiện vẫn còn được giữ gìn và tôn tạo bên bờ sông Châu ở huyện Lý Nhân - không xa đền Mỵ Ê. Hai ngôi đền này xuất lộ bản sắc, tâm thức dân gian Sơn Nam - Hà Nam tôn vinh Người phụ nữ mà triết gia Guêthe của nước Đức đã khái quát lên thành Nguồn vô tận nữ tính (L’eternel fe’minin). Đấy cũng là nét phản ánh nguyên lý Nữ - nguyên lý Mẹ của nền Văn hóa Việt Nam.

Tôi cũng còn muốn tâm sự nhiều điều nữa/khác cùng bạn đọc về tính cách và bản sắc văn hóa Hà Nam - Sơn Nam. Ví dụ về công nghệ truyền thống: Biệt tài thợ đấu xứ Nam đào mò dưới nước những khuôn đất vuông vắn lớn đặng vượt thổ, tôn nền, làm nhà cao ráo giữa vùng lầy trũng, kèm luôn theo đó là bản sắc Ao và hệ sinh thái Ao rất đặc sắc của người Việt châu thổ Sơn Nam. Không có Ao Sơn Nam làm sao nảy sinh cả một nền văn hóa múa rối nước mang hoàn toàn bản sắc Việt Nam? Lại một ví dụ khác mà tôi đã đem chất vấn nhà văn Chu Văn thời Hà - Nam - Ninh còn là một: vì sao đất Nam Hạ - Nam Hà - Hà Nam - Nam Định lại nảy sinh những nhân cách văn học lớn: cụ Tam nguyên Yên Đổ, cụ Tam nguyên Vị Xuyên rồi Tú Xương của thời cận đại và ngay sau đó là những Nam Cao, Nguyễn Bính cùng Vũ Tú Nam, Vũ Cao, Văn Cao... của một thủa chưa xa?

Tôi đã và sẽ dùng lý thuyết địa - văn hóa để cắt nghĩa những hiện tượng đặc sắc này. Viết thêm nữa, e lấn trang, lấn sân của người khác. Mà người Hà Nam quê tôi, theo tôi hiểu, đâu có thích lấn ai nếu không phải đôi khi lại chịu đựng sự "lấn sân" của nhiều người, nhiều vùng khác!

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân