http://www.bbcvietnamese.com

09 Tháng 8 2005 - Cập nhật 13h05 GMT

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng
Luân Đôn

Các xu hướng chính trị Nam Bộ và Đông Du

Phong trào Duy Tân dấy lên tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ hai mươi không phải chỉ có ở miền Bắc và miền Trung mà là trên toàn quốc.

Các nhà giầu yêu nước ở miền nam đã đóng góp một phần lớn những chi phí tài chánh cho phong trào Đông Du trong khi gần một nửa học sinh tham gia phong trào này xuất phát từ miền Nam.

Khác biệt đã có từ đó

Nhưng khác với miền Bắc nơi mà những nhà cải cách trong những năm đầu của thế kỷ thứ hai mươi phải đấu tranh để người ta chấp nhận việc dùng chữ quốc ngữ, tại miền Nam sau bốn thập niên dưới sự đô hộ của Pháp, giới trí thức đã quen thuộc với chữ quốc ngữ và chấp nhận nó như là một môi trường truyền bá văn học và tư tưởng.

Những nhà duy tân miền Nam như Gilbert Chiếu còn đã thành công trong việc dùng những tờ báo chữ quốc ngữ như Nông Cổ Mín Đàm hoặc Lục Tỉnh Tân Văn để ngấm ngầm truyền bá những tư tưởng cách mạng.

Thay vì đấu tranh trên phương diện văn hóa, các nhà duy tân miền nam tập trung vào khía cạnh kinh tế, lập ra những cơ sở kinh doanh để cạnh tranh với những thương nhân người Hoa (và ở mức độ âm thầm hơn với những cơ sở của Pháp).

Các nhà giầu có ở miền nam bắt đầu bỏ tiền đầu tư thành lập những nhà máy xay lúa, xưởng làm nước mắm, họ mở khách sạn, tiệm ăn, cửa hàng buôn bán. Một số những thu nhập của các hoạt động này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động cách mạng, đặc biệt là phong trào Đông Du.

Những cố gắng của phong trào mà người Pháp gọi là chủ nghĩa kinh tế quốc gia (nationalisme économique) đã lên đến cao điểm trong chiến dịch tẩy chay các cơ sở người Hoa năm 1919 và việc thành lập Công ty tài chánh An Nam mà sau này trở thành Việt Nam Ngân Hàng năm 1925.

Bùi Quang Chiêu và đảng Lập Hiến

Bên ngoài những hoạt động kinh tế, lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ cũng như sự kiện là nhiều người trong số này có quốc tịch Pháp, giới trí thức miền nam còn tìm cách hoạt động chính trị một cách công khai. Cố gắng này đã dẫn đến sự thành lập một đảng chính trị đầu tiên theo chiều hướng hiện đại - đảng Lập Hiến.

Trong những năm đầu của thập niên 1920, uy tín của đảng Lập Hiến lớn đến nỗi, Nguyễn Ái Quốc ngồi tại Matxcơva đã viết thơ cho đảng Cảng Sản Pháp nói rằng nếu Nguyễn Thế Truyền đã gia nhập đảng Cộng Sản Pháp thì phải ra lệnh cho Truyền gia nhập đảng Lập Hiến để lung lạc những hoạt động của đảng này từ bên trong.

Người sáng lập ra đảng Lập Hiến là Bùi Quang Chiêu. Tuy rằng chỉ trẻ hơn Phan Bội Châu có năm tuổi và cùng xuất thân từ một gia đình nho học, nhưng giữa Phan Bội Châu và Bùi Quang Chiêu là cả một sự khác biệt lớn.

Năm 1872, khi Bùi Quang Chiêu ra đời thì cả miền nam đã rơi vào tay Pháp. Chính vì vậy mà ông nhận được một sự giáo dục hoàn toàn Tây học. Năm 1893, Bùi Quang Chiêu sang Pháp du học và được nhận vào trường kỹ sư canh nông Institut National Agronomique, sau đó sang Algérie tập sự một thời gian.

Trở về Việt Nam, ông làm việc cho chính quyền thuộc địa với cuơng vị kỹ sư canh nông, lấy quốc tịch Pháp và bắt đầu tham gia vào các hoạt động văn hóa, đóng góp vào việc thành lập và sau này trở thành hội trưởng Hội Trí Tri.

Xu hướng thỏa hiệp, thân Pháp
Toàn quyền Pháp Albert Sarrault

Cơ hội cho Bùi Quang Chiêu và những người trong giới trí thức miền nam tương tự như ông đã đến khi Albert Sarrault trở lại làm toàn quyền Đông Dương lần thứ hai năm 1917. Sarrault biết rằng muốn giữ yên được Đông Dương, Pháp ít nhất cần phải lấy được sự ủng hộ của những người gọi là tầng lớp thượng lưu trong xã hội Việt Nam.

Và đối với Sarrault, vốn đã từng là một nhà báo, báo chí là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để thực hiện mục tiêu chính trị và văn hóa của mình tại Đông Dương. Năm 1917, với sự giúp đỡ của Louis Marty, giám đốc sở Mật Thám Đông Dương (Sureté) Sarrault chọn được hai người đứng ra thành lập hai tờ báo, một ở Hà Nội và một ở Sài Gòn.

Cả hai đều được tài trợ từ quỹ đen lấy từ ngân sách của phủ Toàn Quyền và được ra đời hầu như cùng một lúc vào tháng bảy và tháng tám năm 1917, nhưng nhắm vào hai nhóm độc giả rất khác nhau. Tờ báo xuất bản ở Hà Nội có tên là Nam Phong và nhắm vào số độc giả còn theo truyền thống nho học ở miền bắc trong khi tờ báo ở Sài Gòn có tên là Tribune Indigène có mục tiêu tranh thủ những trí thức Tây học ở miền Nam.

Tuy rằng chủ nhiệm tờ Tribune Indigène là Nguyễn Phú Khai, một điền chủ giầu có đã từng du học bên Pháp và là bạn của nhà văn Pierre Loti, nhưng linh hồn của tờ báo là chủ bút Bùi Quang Chiêu. Mục tiêu của tờ báo này là tìm cách lôi kéo giới lãnh đạo trong xã hội Việt Nam ngả theo Pháp. Nhưng chỉ hai tháng sau khi tờ Tribune Indigène ra đời, tờ báo đã đăng lên một loạt bài về những đòi hỏi của giới tư bản người Việt tại Nam Kỳ của Diệp Văn Cương.

Với tài sản và nền học vấn Tây phương, giới tư bản Nam Kỳ tự coi mình như là nhóm tiên phong của sự tiến bộ và là người sẽ thừa kế chính quyền của người Pháp. Tháng tư năm 1919, khi Sarrault hết nhiệm kỳ toàn quyền tại Đông Dương, tờ Tribune Indigène bắt đầu in trên trang đầu tờ báo hàng chữ “Cơ Quan của đảng Lập Hiến” báo hiệu rằng dù Sarrault không còn ở Đông Dương nữa, tờ báo sẽ vẫn còn tiếp tục tranh đấu cho quyền lợi của nhóm tư bản người Việt tại Đông Dương.

Bùi Quang Chiêu và những người đồng chí với ông thành lập đảng Lập Hiến muốn dùng chính trị hợp pháp để lấy lại độc lập thay vì bạo động. Chính vì vậy Bùi Quang Chiêu đã viết trong một bài xã luận năm 1923, chống lại chủ trương của Phan Bội Châu: “Một số người chủ trương dành lại độc lập qua khẩu súng, tôi chủ trương hãy làm vậy qua văn hóa.”

Công nhận sự ưu việt của văn hóa Pháp, Bùi Quang Chiêu biện luận rằng việc phổ biến các tư tưởng của Pháp chỉ có thể làm cho người Việt thắt chặt lại gần thêm với nước Pháp mà thôi. Ông đã viết trong một bài xã luận đăng trên La Tribune Indigène số ngày 7 tháng 1 năm 1918:

Qua việc truyền bá những tư tưởng của Pháp vào đầu óc người Đông Dương, chúng ta không sợ gì sự thức tỉnh tinh thần quốc gia của người An Nam vì tinh thần này có thể được thỏa mãn với chế độ hiện nay vốn phù hợp với khát vọng của chúng ta hơn nhiều so với chế độ cũ.

Mặc dầu Bùi Quang Chiêu bị nhiều người cho rằng ông là một tên bù nhìn của Pháp, và ông đã bị Việt Minh thủ tiêu năm 1945, nhưng thực tế ông cũng là một người yêu nước theo kiểu của ông.

Trên hết, ông là một người đã nói lên được quyền lợi và ước vọng của giai cấp ông, giai cấp tư sản địa chủ miền nam, tiêm nhiễm văn hóa Pháp và tự cho rằng mình sẽ là giai cấp lãnh đạo của một nước Việt Nam mới một khi mà sứ mạng “mission civilisatrice” của Pháp hoàn thành.