Covid-19: Hơn 100 ca tử vong ở Nga là người Việt

  • Lan Hương
  • Gửi tới BBC từ Moscow
.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Mới có 11,6 triệu người Nga hay là 7.9% dân số được tiêm chủng ít nhất 1 mũi, nghĩa là mới được gần 1 phần 13 số lượng cần phải tiêm

Tháng 3, tháng đầu tiên của mùa xuân, với những tia nắng mang theo hơi ấm và niềm vui. Thế nhưng tháng 3 cũng là tháng bắt đầu mùa cảm cúm.

Chẳng có CORONA thì mùa xuân cũng mang theo những sự bực mình và khó chịu là cảm cúm vì dù nắng có ấm thật nhưng tuyết tan làm cho không khí rất ẩm ướt, quả đúng là điều kiện lý tưởng cho các loại vi trùng, virus.

Bắt đầu từ 5 tháng 12 năm ngoái, ở Nga đã bắt đầu chương trình tiêm chủng COVID cho dân chúng.

Lúc đầu là tiêm cho các nhóm ưu tiên, thế nhưng đến giữa tháng 1 thì đã mở rộng cho tất cả mọi người muốn tiêm chủng. Nhưng thực ra chương trình tiêm chủng ở Moskva là khởi động sớm nhất.

Ở các tỉnh khác việc tiêm chủng được bắt đầu chậm hơn và vacxin được gửi đến cũng ít hơn.

Trong lúc ở Moskva vào tháng 1 ai cũng có thể tiêm chủng, dù là người Nga hay người nước ngoài, dù có bảo hiểm y tế hay không có bảo hiểm, thậm chí chính quyền thành phố còn tổ chức các đội tiêm chủng di động tại các siêu thị lớn hay tại các trung tâm dịch vụ đa chức năng nơi tập trung đông người để giúp mọi người dễ dàng được tiêm, thì ở Saint Peterburg phải đến tận cuối tháng 2 dân chúng mới có thể đăng ký đi tiêm và nhiều tỉnh khác thì đến tận tháng 3 vẫn còn gặp khó khăn để đăng ký tiêm chủng.

Mặc dù vaccine của Nga được đăng ký sớm nhất, chương trình tiêm chủng được khởi động cũng rất sớm, nhưng tốc độ tiêm chủng lại khá chậm.

Tính đến ngày 1 tháng 4, mới có 11,6 triệu người Nga hay là 7.9% dân số được tiêm chủng ít nhất 1 mũi, nghĩa là mới được gần 1 phần 13 số lượng cần phải tiêm để có miễn dịch cộng đồng. Sở dĩ tốc độ tiêm ở Nga chậm như vậy là vì 2 nguyên nhân.

Thứ nhất là vì người Nga vẫn e ngại tiêm chủng và không muốn đi tiêm, và nguyên nhân thứ hai là ở những nơi dân chúng muốn tiêm thì lại chưa có đủ vacxin.

Theo thống kê, trong số hàng ngàn người Việt đã tiêm thì chưa hề có ca biến chứng nào gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe cả.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Một phụ nữa đi chủng ngừa miễn phí vaccine Sputnik V tại Yerevan Plaza, Moscow.

Phản ứng nặng nhất là bị sốt đến 38 độ trong 2 ngày, nhưng rất hãn hữu, 1 số ít thì bị sốt từ 37,2 đến 37,7 độ trong ngày đầu tiên sau khi tiêm.

Trên 70% mọi người tiêm không có phản ứng gì cả. Các bác sỹ cũng cho biết cho đến nay chưa hề ghi nhận ca tử vong nào trong số những người tiêm chủng vaccine sputnik-V của Nga.

Thế nhưng theo kết quả thăm dò dư luận của trung tâm Levada, chỉ có 38% dân chúng sẵn sàng đi tiêm chủng thôi.

Trong khi đó người Việt ở Nga rất sốt sắng đi tiêm, dù được tiêm miễn phí hay phải trả tiền cũng đều vui vẻ tiêm ngay.

Cho đến thời điểm này, ngoại trừ những ai còn kháng thể sau khi ốm, hay vì lý do sức khỏe chưa thể tiêm được, phần lớn bà con đều đã đi tiêm rồi.

Sở dĩ bà con người Việt nhanh chóng rủ nhau đi tiêm chủng bởi thông tin về sự nguy hiểm của nó đã được mọi người truyền tải cho nhau trong suốt cả mùa dịch.

Trong hơn một năm qua, trải qua 2 làn song bùng dịch, đã có hơn 100 người Việt ở mọi vùng trên nước Nga đã trở thành nạn nhân của virus COVID.

Triển khai vaccine toàn cầu

Bảng cuộn
Thế giới
60
11.833.638.209
Trung Quốc
87
3.381.314.000
Ấn Độ
64
1.933.706.281
Hoa Kỳ
67
587.360.320
Brazil
78
441.054.017
Indonesia
61
401.308.016
Nhật Bản
81
280.674.544
Bangladesh
71
261.364.230
Pakistan
55
249.380.176
Việt Nam
81
220.779.518
Mexico
61
206.941.649
Đức
77
179.988.058
Nga
51
167.125.605
Philippines
64
151.760.837
Iran
68
149.903.496
Thổ Nhĩ Kỳ
62
147.734.958
Pháp
78
144.497.698
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
73
143.062.369
Italy
79
137.787.967
Thái Lan
75
136.981.091
Hàn Quốc
87
125.537.663
Argentina
82
102.801.138
Tây Ban Nha
87
94.734.966
Canada
82
85.441.862
Colombia
70
83.585.958
Ai Cập
33
82.907.695
Peru
82
74.987.855
Malaysia
83
70.939.755
Saudi Arabia
70
65.362.940
Úc
84
57.642.872
Myanmar
44
56.989.806
Chile
91
56.137.553
Đài Loan
80
55.072.565
Morocco
63
54.595.032
Ba Lan
60
54.499.346
Uzbekistan
44
50.434.421
Nigeria
8
43.994.555
Nepal
67
42.916.756
Campuchia
84
39.658.990
Sri Lanka
67
39.545.641
Venezuela
50
37.860.994
Cuba
88
37.038.176
Nam Phi
31
36.063.285
Ecuador
78
34.809.185
Hà Lan
72
34.345.860
Ukraine
35
31.668.577
Mozambique
44
31.616.078
Ethiopia
18
29.373.478
Bỉ
79
25.370.358
UAE
97
24.874.376
Bồ Đào Nha
87
23.889.918
Thụy Điển
75
22.446.165
Rwanda
64
21.917.222
Uganda
23
21.044.430
Hy Lạp
74
21.017.697
Kazakhstan
49
20.918.681
Angola
19
18.431.807
Áo
73
18.336.033
Iraq
18
18.279.217
Kenya
17
18.246.213
Israel
66
18.156.155
Cộng hòa Czech
64
17.635.168
Guatemala
34
17.435.586
Hong Kong
84
16.959.543
Romania
42
16.812.990
Hungary
64
16.530.488
Ghana
20
16.122.862
Thụy Sĩ
69
15.720.430
Dominican Republic
55
15.663.980
Algeria
15
15.205.854
Singapore
91
14.122.714
Honduras
54
13.927.995
Azerbaijan
47
13.723.446
Bolivia
50
13.644.008
Đan Mạch
83
13.223.265
Tunisia
53
13.164.136
Belarus
64
12.807.687
Tajikistan
51
12.504.152
Côte d'Ivoire
20
12.387.947
Phần Lan
78
12.044.032
Zimbabwe
30
11.742.863
Na Uy
74
11.324.835
New Zealand
80
11.085.963
Costa Rica
81
11.017.624
Ireland
81
10.931.230
Lào
68
10.862.186
El Salvador
66
10.819.940
Nicaragua
72
10.561.352
Jordan
44
9.938.176
Paraguay
47
8.765.455
Serbia
48
8.529.217
Uruguay
83
8.399.971
Panama
71
8.216.856
Kuwait
76
8.022.755
Tanzania
6
7.967.468
Turkmenistan
48
7.140.000
Sudan
8
7.096.087
Oman
59
7.087.785
Slovakia
51
7.072.261
Qatar
89
6.885.951
Guinea
19
6.127.699
Afghanistan
12
6.118.557
Lebanon
35
5.632.093
Mông Cổ
65
5.492.919
Croatia
55
5.252.971
Zambia
17
5.251.671
Lithuania
70
4.485.173
Bulgaria
30
4.399.112
Syria
9
3.801.752
Lãnh thổ Palestine
34
3.721.894
Benin
21
3.619.590
Libya
16
3.460.229
Bahrain
70
3.444.799
Togo
18
3.290.821
Kyrgyzstan
20
3.103.935
Slovenia
59
2.993.761
Burkina Faso
7
2.938.655
Sierra Leone
18
2.930.408
Georgia
32
2.893.850
Latvia
70
2.890.548
Albania
43
2.840.948
Somalia
9
2.712.296
Mauritius
76
2.698.115
Niger
6
2.694.418
Mauritania
23
2.650.000
Senegal
6
2.523.856
DR Congo
1
2.431.360
Madagascar
4
2.369.775
Chad
12
2.352.921
Botswana
56
2.330.589
Malawi
6
2.166.402
Armenia
33
2.149.195
Moldova
26
2.148.116
Mali
5
2.115.108
Liberia
28
1.996.703
Estonia
64
1.990.134
Bosnia and Herzegovina
26
1.924.950
Bhutan
86
1.908.189
Bắc Macedonia
40
1.848.141
Cameroon
4
1.836.573
Kosovo
46
1.829.189
Cyprus
72
1.784.616
Trinidad và Tobago
51
1.563.433
Timor-Leste
49
1.547.717
Fiji
70
1.469.149
Jamaica
23
1.437.876
Macao
88
1.412.074
Malta
91
1.299.815
Luxembourg
73
1.296.948
Cộng hòa Trung Phi
21
1.185.512
Brunei Darussalam
94
1.149.676
Maldives
71
942.138
Lesotho
34
933.825
Guyana
46
905.748
Yemen
1
836.455
Namibia
16
834.756
Congo
12
830.379
Iceland
79
805.469
Cape Verde
55
762.486
Nam Sudan
6
730.047
Gambia
14
720.000
Montenegro
45
673.785
Comoros
34
642.520
Papua New Guinea
3
587.340
Guinea-Bissau
17
562.620
Gabon
11
558.456
Eswatini
29
535.393
Suriname
40
505.699
Samoa
93
482.765
Equatorial Guinea
15
479.991
Belize
52
475.163
Đảo Solomon
24
452.002
Bahamas
40
340.866
Barbados
53
315.193
Vanuatu
38
301.000
Haiti
1
280.729
Jersey
80
234.363
São Tomé và Príncipe
39
208.657
Seychelles
81
201.121
Djibouti
13
191.649
Tonga
68
190.474
Isle of Man
78
189.681
Guernsey
81
155.684
Andorra
69
152.694
Kiribati
50
147.497
Cayman Islands
89
144.209
Bermuda
77
131.612
Antigua and Barbuda
62
125.605
Saint Lucia
29
120.643
Gibraltar
123
119.855
Đảo Faroe
83
103.894
Grenada
34
88.604
Greenland
68
79.745
Saint Vincent và Grenadines
27
70.847
Liechtenstein
69
70.683
Quần đảo Turks và Caicos
76
69.465
San Marino
69
69.259
Dominica
42
66.709
Monaco
65
65.140
Saint Kitts and Nevis
49
60.467
Quần đảo Virgin thuộc Anh
59
40.969
Đảo Cook
84
39.596
Anguilla
66
23.601
Nauru
79
22.976
Burundi
0,1052
15.311
Tuvalu
52
12.528
Saint Helena
58
7.892
Đảo Falkland
50
4.407
Montserrat
37
4.255
Niue
88
4.161
Tokelau
71
1.936
Đảo Pitcairn
100
94
Bắc Hàn
0
0
Eritrea
0
0
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
0
0
South Georgia and Sandwich Is.
0
0
Vatican
0
0

Cập nhật browser để xem

Bộ y tế của Nga lo ngại, nếu tốc độ tiêm chủng chậm rất có thể sẽ làm cho làn sóng dịch bệnh thứ 3 bùng phát vào mùa xuân này. Hiện nay số lượng người bị nhiễm bệnh mỗi ngày ở Nga vẫn đang có su hướng giảm dần.

Xu hướng này đã kéo dài từ cuối tháng 12 đến nay, giảm số lượng người bị nhiễm từ gần 30 ngàn ca một ngày vào ngày 24/12, xuống chỉ còn gần 9000 ca, vào ngày 1/4.

Bộ Y tế của Nga dự kiến sẽ hoàn thành kế hoạch tiêm chủng cho 60% dân số để tạo miễn dịch cộng đồng vào cuối tháng 7 năm nay.

Triển khai vaccine toàn cầu