Thầy Nhất Hạnh mất đi, nỗi buồn Việt Nam vẫn còn đó

  • Bùi Văn Phú
  • Gửi BBC từ California
Thích Nhất Hạnh

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Người Việt đã dùng nhiều danh hiệu khác nhau như Thượng toạ, Hoà thượng, Thiền sư, Sư ông để gọi Thầy Nhất Hạnh.

Nửa thế kỷ trước thầy đã không dùng danh xưng "Thích Nhất Hạnh" mà chỉ là "Nhất Hạnh", như in trên bìa tập sách nhỏ "Bông hồng cài áo", xuất bản lần đầu tại Sài Gòn giữa thập niên 1960. Ý tưởng trong tác phẩm nổi tiếng này được nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đưa vào ca khúc mang cùng tên mà rất nhiều người Việt thường cất tiếng ca để nhớ về mẹ.

Từ những năm đó, thầy đã khai mở một Phật pháp môn mới là Tiếp Hiện, sau này là Làng Mai hải ngoại, với tinh thần tu tập dấn thân được nhiều người theo học, để nhận ra thầy là một bậc tu hành người Việt được thế giới kính trọng.

"Thầy" là cách xưng hô người Việt dùng khi tiếp xúc với các nhà tu hành Phật giáo, nhưng với tôi, nhìn qua lăng kính tâm lý giáo dục tôi gọi là "Thầy" vì ông thực sự là bậc thầy về tâm lý học hơn là một nhà tu truyền giảng tín lý tôn giáo.

Chụp lại video,

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: 'Không có cái gì chết đi'

Những điều thầy nói ra là "hiểu và thương" trong giao tiếp giữa người và người, là "tỉnh thức" trong từng lời nói, việc làm dù rất thường ngày như quyét nhà, rửa chén hay vui chơi, học hành, như thầy đã viết trong "Nói với tuổi hai mươi" là một tác phẩm quen thuộc với giới trẻ ở Việt Nam từ thập niên 1960 và với giới trẻ hải ngoại sau năm 1975.

Nhiều người ngoại quốc được thầy chỉ dẫn vào "chánh niệm", qua "Phép lạ của sự tỉnh thức" được xuất bản ở Sài Gòn trước đây và nay đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ. Thầy dạy một điều thật đơn giản là trong từng bước chân, nhịp thở hãy sống ngay phút giây hiện tại để giúp nhận ra chính mình đang hạnh phúc, giúp con người trầm tĩnh lại, nhận ra bình an trong tâm hồn, khi mà xã hội văn minh vật chất luôn năng động quay cuồng và áp lực cuộc sống đè nặng trên vai.

Lần đầu tiên tôi được gặp thầy là vào mùa xuân 1983 trong buổi thuyết giảng tại Berkeley Community Theater.

Nguồn hình ảnh, Bui Van Phu

Chụp lại hình ảnh,

Một số tác phẩm của thầy Thích Nhất Hạnh

Năm 1981, Bút nhóm Ý Thức do tôi khởi xướng sinh hoạt với sinh viên Đại học Berkeley có in lại "Bông hồng cài áo", tôi viết thư qua Pháp xin phép và được thầy đồng ý cho in. Hôm đó tôi có đem theo tập sách nhỏ để xin thầy chữ ký.

Những năm ở Đại học Berkeley tôi đọc "Lotus in the Sea of Fire" để thấy thầy là người Việt đã lên tiếng phản đối chiến tranh, kêu gọi hoà bình, đòi quyền dân tộc tự quyết. Qua tác phẩm, qua những phát biểu, qua những "Đề nghị hoà bình" cho Việt Nam, chủ yếu thầy yêu cầu người Mỹ rút lui, chấm dứt can thiệp vào Việt Nam.

Tháng Tư 1975 người Mỹ quấn cờ ra đi. Chiến tranh chấm dứt, hoà bình không thấy mà thanh niên Việt lại phải tiếp tục hy sinh trên chiến trường biên giới phía bắc, mất mạng bên nước láng giềng phía tây.

Nguồn hình ảnh, Bui Van Phu

Chụp lại hình ảnh,

Buổi quán niệm với Tăng đoàn Làng Mai ở Oakland, California

Chiến tranh chấm dứt, nhiều người Việt không được vui sống bên gia đình mà lại bị đưa vào những trại học tập cải tạo.

Chiến tranh chấm dứt, các cơ sở tôn giáo bị tịch thu. Nhiều người không thể đóng góp cho quê hương mà phải vượt biển, vượt biên bỏ nước ra đi.

Năm 1976 thầy là người đầu tiên có mặt ở Đông Nam Á, với con thuyền do một tổ chức quốc tế về tôn giáo bảo trợ để cứu người vượt biển, dự định đưa họ đến Guam hay qua Úc. Vì thiếu minh bạch tài chánh nên chương trình bị buộc chấm dứt và thầy trở về Pháp. Dù thế nào, đó cũng đã là mở đầu cho nhiều tổ chức sau này thuê tàu ra khơi để cứu người, khi làn sóng thuyền nhân ngày càng lên cao.

Hôm thầy đến diễn thuyết ở Berkeley, ngoài hành lang có bàn ký thỉnh nguyện thư gửi Liên Hiệp quốc, lãnh đạo Việt Nam đòi tự do tôn giáo, tôn trọng nhân quyền cho Việt Nam.

Nguồn hình ảnh, Bui Van Phu

Chụp lại hình ảnh,

Thị trưởng Oakland Jerry Brown phát biểu trong một buổi quán niệm ở Oakland, California đầu thập niên 1990

Tình hình giáo hội Phật giáo ở Việt Nam khi đó rất căng thẳng vì Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã bị nhà nước giải tán, thay thế bằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trực thuộc Mặt trận Tổ quốc. Các thầy Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ bị giam hay quản chế cư trú, người ở Quảng Ngãi, người ở Thái Bình.

Thời chiến tranh, thầy kêu gọi chính phủ Sài Gòn cho Giáo hội Phật giáo được tự do hành đạo. Thời cộng sản, Hà Nội đàn áp giáo hội thì thầy không nói gì.

Thầy lập ra Làng Hồng, sau là Làng Mai để phát triển việc tu thiền, đi thuyết giảng ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia, thu hút đông tăng sinh. Mấy chục quyển sách về tu thiền, về lịch sử, văn hoá Việt Nam của thầy in tại hải ngoại được nhiều người đón nhận.

Hôm thầy thuyết giảng ở Berkeley, vài nghìn người đến nghe, hầu hết là người Mỹ, ngồi kín thính đường và tràn ra cả lối đi.

Ngoài hành lang có bày bán sách của thầy và tôi chú ý đến bài thơ in trên giấy hoa văn, đọc qua thấy mang nhiều ý nghĩa nên tôi mua một bản. Bài thơ "Please call me by my true names" có những câu đã nói lên hoàn cảnh của hàng triệu người Việt sau chiến tranh.

I am the twelve-year-old girl,

refugee on a small boat,

who throws herself into the ocean

after being raped by a sea pirate.

And I am the pirate,

my heart not yet capable

of seeing and loving

I am a member of the politburo,

with plenty of power in my hands.

And I am the man who has to pay

his "debt of blood" to my people

dying slowly in a forced-labor camp

Tạm dịch:

Tôi là bé gái 12 tuổi,

tị nạn trên con thuyền nhỏ,

trầm mình xuống biển

sau khi bị hiếp.

Tôi là tên hải tặc

tim tôi chưa biết

nhìn thấy và thương

Tôi là uỷ viên bộ chính trị,

quyền lực trong tay.

Còn tôi một người

phải trả "nợ máu" nhân dân

đang chết dần trong trại lao động cưỡng bách

Bài thơ này sau được in trong tập thơ của thầy, mang cùng tên "Please call me by my true names" do nhà xuất bản Parallax ở Berkeley phát hành năm 1993.

Lần đầu tiên đi nghe thầy thuyết giảng. Sân khấu trang trí thật đơn sơ. Thầy ngồi. Khoan thai gõ chuông trên tay. Tiếng Anh lơ lớ, chậm rãi, thầy yêu cầu mọi người thở ra, hít vào. Thầy nói chuyện như tâm sự, chừng hơn tiếng đồng hồ và mọi người yên lặng lắng nghe.

Nguồn hình ảnh, Bui Van Phu

Chụp lại hình ảnh,

Tượng đài với những nhân vật hoạt động vì hoà bình ở Oakland, California

Mười năm sau, thầy và Tăng đoàn Làng Mai có buổi quán niệm bên hồ Lake Merritt, Oakland với nhiều nghìn người tham dự. Thị trưởng Oakland là Jerry Brown, cựu thống đốc tiểu bang California, đã có mặt và trao bằng khen cho thầy, ông nói trong nhà ông có ảnh chân dung và nhiều sách của thầy.

Dịp này tôi được một anh bạn trước đây cùng nhau sinh hoạt báo chí sinh viên trong vùng Vịnh San Francisco, là Thượng toạ Thích Từ Lực trụ trì chùa Phổ Từ ở Hayward, mời đến chùa dùng cơm trưa với thầy. Bữa cơm chay trong thinh lặng.

Sau đó nói chuyện ít lâu với thầy về sinh hoạt giới trẻ địa phương mà anh bạn và tôi thường tổ chức trong phạm vi sinh hoạt của hai tôn giáo khác nhau. Giọng thầy lúc nào cũng nhỏ nhẹ, chậm rãi, như khi thuyết giảng.

Thầy thường đến vùng Vịnh San Francisco vì có những tăng sinh Mỹ đã theo thầy nhiều năm, từ những ngày Làng Mai mới ra đời, đặc biệt là anh chị Arnie và Theresa Kotler sáng lập nhà xuất bản Parallax đã phát hành nhiều tác phẩm của thầy.

Đến năm 1999 xảy ra tranh chấp tài chánh giữa thầy và nhà xuất bản để rồi phải xa cách nhau là điều đáng tiếc vì trong hai chục năm theo thầy, lo tổ chức diễn thuyết, in ấn xuất bản, anh chị Arnie và Theresa còn làm việc với thầy trong chương trình từ thiện giúp người nghèo ở Việt Nam qua việc gửi những gói quà nhỏ bằng đường bưu điện, trong đó có thuốc men, kem đánh răng mà người nhận có thể dùng hay bán đi để có tiền mua thực phẩm.

Nguồn hình ảnh, Bui Van Phu

Chụp lại hình ảnh,

Sư cô Chân Không, với khăn áo nâu, trong một buổi quán niệm ở Oakland, California

Có những người nghèo nhận được gói quà, viết thư qua cám ơn. Tôi dịch những lá thư qua tiếng Anh cho những nhà hảo tâm hiểu. Một lá thư từ vùng quê Đà Nẵng kể rằng gia đình ông không có thân nhân ở nước ngoài, khi nhận được giấy báo lên bưu điện thành phố nhận hàng, ông ngạc nhiên. Nghèo quá, không có phương tiện lên thành phố nên ông phải mượn xe đạp và tiền của hàng xóm để đi lãnh hàng và nộp thuế. Ông kể đã giữ lại món gì trong gói hàng, bán thứ gì để trả nợ, để có tiền mua thực phẩm.

Tuần trước, nhà thơ Bùi Chí Vinh từ trong nước có kể chuyện trên FaceBook của ông về sự kiện năm 1987 ông nhận được gói hàng từ một người xa lạ tên Bùi Thị Chín, gửi từ California nên bị công an mời lên thẩm vấn, nói quà đó là từ Sư cô Chân Không, phụ tá thân tín nhất của thầy, trong chiến dịch chuyển lửa về quê nhà.

Về sư cô mà thầy gọi là "Sister Chân Không", theo ghi chú trong tập thơ "Please call me by my true names", năm 1966 từ nước ngoài thầy có làm bài thơ ngắn mang tên "The empty path" viết lên bưu thiếp gửi về cho Cao Ngọc Phượng, tức Chân Không sau này, mà cô nhận được trong ngày bị bắt giam vì tội in và mang trong người những tài liệu chống chiến tranh. Chân Không, cùng Nhất Chi Mai là trong số vài tăng sinh đầu tiên theo pháp môn Tiếp Hiện được thầy chấp nhận thọ giới.

Tập thơ ghi lại những cảm xúc của thầy trong ba thập niên qua nhiều sự kiện, từ chiến tranh với những cái chết của dân vì bom đạn, những vụ ám sát các thành viên của trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, đến cái chết của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, thảm cảnh thuyền nhân sau năm 1975.

Thầy chủ trương bất bạo động nhưng lại là con người thụ động. Thầy không có can đảm để mạnh mẽ nói lên nỗi thống khổ của đồng bào mình dưới chế độ mới, như Gandhi, Martin Luther King Jr., Đức Dalai Lama hay Giám mục Tutu khi nói về đồng bào của họ.

Vì thầy không muốn mất lòng tin của phe cánh tả, của những người phản chiến cũ, những người còn mang mặc cảm tội lỗi vì sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Linh mục công giáo Daniel Berrigan đã viết trong lời giới thiệu sách "Love in Action" của thầy để xin tha thứ: "For your grief, for your long travail, your exile, for the deaf and dumb of uncaring world, for the crucifixion and death of your people. Forgive us." (Vì nỗi buồn của anh, vì đau khổ kéo dài, cuộc sống lưu vong, vì sự câm lặng ngu ngơ của một thế giới không quan tâm, vì sự chịu nạn và cái chết của dân tộc anh. Xin tha lỗi cho chúng tôi.)

Một nghệ sĩ Mỹ muốn tôn vinh hoạt động vì hoà bình nhân loại đã khắc tượng thầy chung với Mục sư Martin Luther King Jr., Mẹ Têrêsa, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và nhiều danh nhân khác trong một công viên ở thành phố Oakland, vùng Vịnh San Francisco.

Thầy là nhà tu hành người Việt nổi tiếng khắp thế giới và với quá khứ chống chiến tranh, chống Mỹ can thiệp, nhưng Hà Nội lại không cho phép thầy về.

Ba mươi năm sau ngày thống nhất đất nước, qua nhiều vận động của quốc tế và Hoa Kỳ, đặc biệt là của cố Thượng Nghị sĩ John McCain, thầy được trở lại quê hương đầu năm 2005 trong phẩm phục, võng lọng chứ không còn là hình ảnh Sư ông Làng Mai đơn sơ với áo nâu sòng, nón lá.

Về nước Đức Tăng thống Huyền Quang và Hoà thượng Thích Quảng Độ không tiếp thầy, trong khi thầy được gặp Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp mời trà. Sư cô Chân Không, như để lấy điểm với nhà nước đã phát biểu rằng những ngôi chùa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là nơi có cờ vàng ba sọc đỏ.

Thầy tin Hà Nội sẽ cho pháp môn Làng Mai được sinh hoạt và phát triển. Tu viện Bát Nhã mở ra ở Lâm Đồng với hàng trăm tăng sinh tu tập.

Khi thầy kiến nghị nhà nước đòi sự độc lập cho tôn giáo, bỏ ban tôn giáo nhà nước, Bát Nhã trở thành bãi tha ma sau một đêm côn đồ tấn công vào thiền viện, đuổi mấy trăm tăng sinh đi.

Sau 95 năm ở dương trần, rạng sáng ngày 22/1/2022 thầy Nhất Hạnh thở hơi cuối cùng tại chùa Từ Hiếu, Huế sau một thời gian bệnh.

Thầy ra đi được nhiều người nước ngoài tiếc nhớ vì tiếng nói cho hoà bình, vì ảnh hưởng của thầy trong sinh hoạt Phật giáo ở phương Tây, qua cách tu thiền để sống hạnh phúc trong từng phút giây mà nhiều người đang theo đuổi.

Với người Việt, vì trên quê hương vẫn thiếu tự do, người dân không có quyền quyết định tương lai cho đất nước, như thầy và nhiều người từng tranh đấu cho lý tưởng đó, nên tranh luận về những gì thầy đã làm vẫn còn tiếp tục.

Từ Houston, Texas Hòa thượng Thích Huyền Việt, đại diện cho Văn phòng 2 Viện Hoá đạo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã trả lời phóng viên đài VOA hôm 25/1 về sự ra đi của thầy với cảm nhận: "Bản thân tôi vẫn kính trọng, ngưỡng mộ Thiền sư về phương diện văn hóa, truyền bá tư tưởng Phật giáo từ bi, bao dung đến thế giới phương tây, nhưng trên tinh thần quốc gia, dân tộc thuần túy thì tôi không cùng đường với Thiền sư Nhất Hạnh."

Bài thơ "Hoà bình" của thầy viết năm 1964, được Phạm Duy phổ thành tâm ca "Tôi ước mơ", có lời vẫn đúng với thực tế trên quê hương hôm nay:

Tôi vẫn sống, tôi vẫn ăn

và tôi vẫn thở

Nhưng đến bao giờ

tôi mới được nói

những điều tôi ước mơ

* Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và đã có nhiều năm sinh hoạt thanh niên, sinh viên.