Trăn trở về Biển Đông và lòng yêu nước

Image caption Tài nguyên năng lượng ở Biển Đông được cho là quan trọng

Chỉ cần lướt mạng, những người quan tâm đều biết rằng dư luận độc lập với truyền thông nhà nước không hề tự hào gì về việc nhà nước mua sắm một ít vũ khí hiện đại, trong khi ai cũng biết rằng chỉ cần kéo lùi được tham nhũng Việt Nam dư tài lực trang bị hải quân hùng mạnh để tự vệ.

Riêng khối dư luận thuộc hệ thống chính quyền thì không dấu vẻ yên tâm và tự hào...

Nhưng Trường Sa của Việt Nam không phải là một dạng “ hàng không mẫu hạm” tự nhiên, không thể đánh chìm như Okinawa, biển Đông không có mấy chục ngàn lính Mỹ thường trực như ở phía Nam nước Nhật, cũng như không có một thủ tướng như Hatoyama “tự sát chính trị” để bảo đảm hiệp ước đồng minh sống còn với Hoa Kỳ.

Vào lúc mà Trung Quốc trở thành con rồng khổng lồ với cái bao tử triền miên đói tài nguyên thiên nhiên và ham muốn đẩy xa biên giới lãnh thổ để bảo đảm an ninh và thực hiện tham vọng, thì biển Đông và Việt Nam là cửa ngõ, là vùng tài nguyên để khai thác và dự trữ chiến lược sống còn với tương lai của siêu cường Hoa Lục.

Về lâu dài, với Trung Quốc, biển Đông quan trọng hơn cả vùng biển chiến lược Đông Bắc Á. Trong tương lai gần, nếu có chiến tranh qui ước cục bộ thì sự kiện đó không thể xảy ra ở vùng Đông Bắc Á, các cường quốc đang làm chủ thế giới hiện nay chưa đến nỗi ngớ ngẩn tạo ra khủng hoảng ở khu vực nhà giàu để cùng tự nguyện tự sát tập thể.

Nhưng cơn đói tham vọng và bảo đảm vùng tài nguyên là thứ Trung Quốc không thể không thoả mãn, hơn nữa Trung Quốc không thể đạt địa vị siêu cường nếu trước tiên không trở thành cường quốc hải quân để thực hiện tham vọng lãnh hải. Nên hiện nay có dư luận cho rằng Trung quốc sẽ tiến hành cuộc chiến nhỏ hơn ở biển Đông trong sự ngó lơ của các “đại ca” cùng tham vọng lợi nhuận.

Trước khi vấn đề tranh chấp biển Đông được nhà nước Việt Nam quốc tế hoá thành công, trước khi Việt Nam trở thành một quốc gia có hải quân đủ mạnh để có thể đánh chìm một số tàu làm nhục mặt hạm đội tham lam của Trung Quốc, thì những toan tính phiêu lưu quân sự, hù doạ cưỡng đoạt chủ quyền của giới cực đoan Trung Quốc được thể hiện qua các báo mạng tiếng Trung, không chỉ gây quan ngại mà còn làm bừng tỉnh sâu sắc ý thức yêu nước trong dư luận Việt Nam và các nước trong vùng Đông Nam Á.

Trong lịch sử Việt Nam, điều mà thuỷ quân của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo… từng chiến thắng trước thuỷ quân phong kiến phương Bắc, nỗi ám ảnh đó vẫn còn nguyên và chắc chắn sẽ làm những người tỉnh táo ở phương Bắc phải cân nhắc. Ở qui mô thế giới, sự kiện hạm đội hùng mạnh của Nga Hoàng tan tác bởi Hải Quân Nhật hoàng ở eo Đối Mả không phải là chuyện không thể lập lại ở biển Đông.

Tên lửa, máy bay tàu ngầm Nga, Canada… mà Việt Nam sẽ có là thứ vũ khí đi mua mà nếu có cho không, hoặc bán thiếu thì cũng không thể có một cầu không vận vũ khí, kiểu mà Liên Xô và Mỹ lập nên nhằm đáp ứng nhu cầu của chiến trường qui ước trong chiến tranh 10 ngày giữa Do Thái và - khối Á rập năm 1973.

Đó là chưa kể đến chuyện món nợ chiến tranh mới lại quàng thêm một cái tròng, trong khi cái tròng nợ vũ khí của cuộc chiến trước đây ở Việt Nam chỉ mới vừa lỏng ra được một tí.

Nhưng vũ khí lịch sử của người Việt cũng đưa đến niềm tin vững mạnh rằng, cả bờ biển dài cả ngàn cây số của Việt Nam sẽ là một hạm đội không thể đánh chìm cũng như không là vũng lầy của giặc ngoại xâm chiếm đóng.

Nhiều người nói trong thế giới hiện đại sẽ không còn chỗ động cơ phát động chiến tranh kiểu cũ. Tin như thế có ngây thơ quá không? Những quốc gia nhỏ bị chiếm đoạt khai thác, dù kiểu mới hay cũ thì cuối cùng các dân tộc có tham vọng bá chủ vẫn cứ mở kho vũ khí khổng lồ của mình ra để đe doạ, cai trị, đàn áp.

Ở Châu Á, cứ nhìn chuyến đi gần nhất của ông Ôn Gia Bảo, sẽ thấy vị thế Việt Nam trong tính toán sâu xa của Trung Quốc. Ông thủ tướng Trung Quốc chọn kết thúc chuyến đi ở Miến Điện. Vì sao là Miến Điện! Phải chăng từ đồng minh này, họ sẽ có một Bắc Triều Tiên thứ hai nhằm chia cắt Đông Nam Á với Tây Nam Á, mà cụ thể là cô lập Ấn Độ, nhằm chuẩn bị cho chiến lược kiểm soát tất cả các quốc gia giàu tài nguyên và nhân lực giá rẻ toàn vùng Châu Á.

Có thể đến cuối thập niên thứ hai của thế kỷ này, nếu thể chế hiện nay ở Việt Nam từ chối uống viên “não thần hoàn” của Trung Quốc, thì tập thể bộ chính trị mới của Trung Quốc sẽ không để chuyện Việt Nam như “vết ngứa trong tim” tiếp tục làm mất ngủ.

Danh chính ngôn thuận

Ngày 5/6, trong nội dung phát biểu khai mạc phiên toàn thể diễn đàn an ninh châu Á-Thái Bình Dương, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robeert Gates đưa ra nhận định: “Khu vực biển Đông là khu vực gây quan ngại ngày càng tăng, biển Đông không chỉ có ý nghĩa sống còn với các quốc gia có bờ biển trực tiếp, mà còn với các nước có lợi ích kinh tế và anh ninh ở chấu Á.”

Image caption Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đề cập chuyện Biển Đông ở hội nghị Shangri-La 2010

Vào lúc mà Trung Quốc ngang ngược cho tàu ngư hướng mũi về biển phía nam ngày càng xa. Rất chừng mực, đề thi môn sử trung học phổ thông năm nay đã nêu cao kiến thức và tinh thần bảo vệ biển đảo.

Trong khi đó hàng ngày, báo giấy, báo mạng Việt Nam ngày càng ý thức hơn về việc gọi đúng tên: tàu chiến, lính và súng Trung quốc đang ăn hiếp, ăn cướp ngư dân Việt Nam cũng như chỉ đích danh “tay nhà giàu mới” phương Bắc đang tạo lắm vấn nạn mới, lập nhiều mưu đồ mới…

Nhưng tầm mức thông tin như hiện nay vẫn chưa đủ, chưa rõ toàn cảnh để mọi người thấy rằng cánh cửa lớn sống còn phía đông của dân tộc đang bị Trung Quốc lăm le đóng lại và sẽ đến ngày họ sẽ bóp ổ khoá. Vũ khí dư luận phải là sức mạnh để giữ biển đảo và hoà bình không chỉ riêng cho Việt Nam

Người Việt Nam từ quá khứ tới hiện đại chưa bao giờ có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, yêu nước trong tinh thần chống xâm lăng không hề có chút liên hệ đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và đừng non nớt để bị gạt mà tự phế nội lực yêu nước- một sức mạnh toàn diện và chân chính bảo vệ dân tộc suốt hàng ngàn năm.

Trong tương lai không phải Việt Nam giàu ở mức nào, có thể chế nào, bởi người bạc nhược, thiển cận, bọn cơ hội, mãi quốc cầu vinh ở chế độ chính trị xã hội nào cũng có.

Chỉ cần bài học lịch sử Việt Nam được viết mới với nội hàm: Không chỉ những cuộc chiến chống xâm lăng đã qua là cơ sở của lòng tự hào dân tộc, mà chính từ lòng yêu nước hôm nay dân tộc này phải nhận diện, phải gọi đích danh, phải chỉ ra minh bạch hiểm hoạ tham vọng lãnh thổ từ Trung Quốc.

Một điều mà Trung Quốc dù rất ham muốn nhưng vẫn còn sợ hãi là nếu gây chiến tranh, điều đó có nghĩa là dân tộc Việt sẽ là một khối đoàn kết.

Và một cuộc viễn chinh thảm bại sẽ là vết thương khó lành cho chính nội tình Trung Quốc, sẽ là cơn đau thúc đẩy những căn chứng trầm trọng khác của thể chế hiện nay ở Trung Quốc.

Tất nhiên, khác thời hậu chiến tranh Việt Nam theo kiểu ở Mỹ, hậu chiến tranh Việt Nam ở Trung Quốc cũng sẽ là động lực thúc đẩy nhanh hơn tiến trình rối loạn, tan rã của thể chế hậu cộng sản.

Ngay bây giờ, quyền phản ứng cứng rắn hơn trước mọi hành động khiêu khích lấn áp, xâm phạm chủ quyền ở biển Đông là chính nghĩa Việt Nam. Và điều đó cũng là cách ứng xử rạch ròi cho ý thức chuẩn mực về giữ hoà khí giữa hai dân tộc.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do hiện sống tại TP. HCM.

Tin liên quan