http://www.bbcvietnamese.com

20 Tháng 7 2004 - Cập nhật 20h20 GMT

Phạm Cao Dương
Giáo sư sử học đang sống ở California

Geneva và những kinh nghiệm chưa được rút tỉa

Ý kiến tham gia trang Diễn Đàn của Ban Việt Ngữ đài BBC:

Đã 50 năm trôi qua từ sau hiệp định Genève 1954, nhưng vẫn còn những kinh nghiệm không được những người trong cuộc rút tỉa.

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại nói chung và lịch sử Người Việt Hải Ngoại nói riêng, hai thời điểm 1954 và 1975 là hai thời điểm căn bản, hai khúc quanh lớn của lịch sử có liên hệ chặt chẽ với nhau trong những quan hệ nhân quả.

Năm 1954 là năm Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc, mở đầu cho cuộc di cư của non một triệu người từ Bắc vô Nam.

Năm 1975 là năm miền Nam sụp đổ trước sự xâm lăng bằng võ lực của miền Bắc, mở đầu cho phong trào rời bỏ đất nước ra đi của hơn hai triệu người Việt ngày nay sống rải rắc ở khắp nơi trên thế giới.

Hoàn cảnh triệu tập

Trong hoàn cảnh nào Hội Nghị Genève đã được triệu tập và Hiệp Ðịnh Genève đã được thông qua?

Ðể trả lời câu hỏi này, nhiều người thường nghĩ ngay tới Trận Ðiện Biên Phủ và cho rằng Hội Nghị Genève đã được triệu tập một ngày sau khi người Pháp bị bại trận, tức ngày 8 tháng 5 năm 1954.

Ðiều này không hoàn toàn đúng.

Ngày 8 /5/1954 chỉ mở đầu cho giai đoạn thứ hai của một hội nghị Genève lớn hơn, có mục tiêu là cả vùng Ðông Á với Chiến Tranh Cao Ly là chính, bắt đầu họp từ ngày 26/4/1954 trước đó.

Tất cả bắt nguồn từ sự thất bại của Hội Nghị Tứ Cường, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, để bàn về các vấn đề Âu Châu, trọng tâm là sự thống nhất nước Ðức vào đầu năm này.

Ðây là thời kỳ Chiến Tranh Lạnh bao trùm thế giới.

Hội Nghị Genève được triệu tập là do Nga đề nghị.

Thành phần là các ngoại trưởng của Tứ Cường, thêm Châu Ân Lai của Trung Cộng, cũng do Nga đề nghị.

Vào thời điểm này Trung Cộng mới vừa làm chủ được Trung Hoa lục địa được ít năm và chưa có một vai trò quốc tế nào.

Mục tiêu của Nga là tạo dịp để đồng minh Á Châu của nước này được gián tiếp công nhận.

Hoa Kỳ buổi đầu rất ngần ngại.

Nhưng sau những giải thích của Nga và những mặc cả qua lại, hội nghị đã được triệu tập với mỗi nước mỗi chủ trương khác nhau và những mục tiêu khác nhau.

Chủ trương của các nước tham dự

Anh Quốc:

Anh Quốc tin tưởng vào đường lối hòa hoãn, đồng thời e ngại chiến tranh ở Việt Nam có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt cho các thuộc địa của nước này, đặc biệt là Hương Cảng nằm trong nội địa của Trung Quốc, sau đó là những vùng Anh có ảnh hưởng và quyền lợi nằm ở phía tây và tây nam bán đảo Ðông Dương với Mã Lai và Singapore là chính.

Liên Xô:

Liên Xô từ sau khi Stalin chết (5/3/1953) chủ trương mềm dẻo và muốn sống chung hòa bình với các nước Âu Châu chống lại Hoa Kỳ, từ đó tìm cách thuyết phục Pháp không tham gia Cộng Ðồng Phòng Thủ Chung Âu Châu.

Khởi đầu, ngày 28 tháng 9, Liên Xô đề nghị tứ cường họp để giải quyết vấn đề thống nhất nước Ðức.

Ðến tháng Giêng năm 1954 trước khi Hội Nghị Berlin nhóm họp, Ngoại Trưởng Vyacheslav Molotov thông báo cho Pháp biết là Nga sẽ giúp Pháp giải quyết vấn đề chiến tranh Ðông Dương nếu bù lại Pháp từ chối yêu cầu của Hoa Kỳ không tham gia Cộng Ðồng Phòng Thủ Âu Châu.

Người ta không rõ người Pháp đã trả lời ra sao nhưng chỉ hơn một tuần sau Hội Nghị Genève Hạ Nghị Viện Pháp đã bác bỏ dự án tham gia tổ chức này, vào ngày 30/8/1954.

Ðối với Á Châu, Nga cũng chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra khắp châu này, nhưng lại dành cho Á Châu một ưu tiên thấp hơn Âu Châu.

Không những thế, Nga tự coi như không có khả năng kiểm soát mọi chuyện ở Á Châu nếu Mỹ cố ý leo thang ở Á Châu với sự thỏa thuận của Anh trong khi Nga không chủ trương leo thang.

Ðồng thời Nga cho rằng một khi chuyện này xảy ra, các nước Tây Phương sẽ sáp lại gần nhau hơn trong một thế chống Cộng mới từ đó bó buộc Nga phải tham chiến để bênh vực Trung Quốc.

Trong khi đó, vai trò đem lại hòa bình ở Ðông Dương sẽ tạo cho Nga một hình ảnh đẹp của một quốc gia mưu cầu hòa bình cho thế giới.

Với chủ trương kể trên, ngay khi Hội Nghị Genève bắt đầu, khi câu hỏi là đình chiến và giải pháp chính trị nên được thảo luận chung hay tách rời thành hai vấn đề riêng biệt thì Nga đã ủng hộ Pháp là nên tách biệt với ưu tiên dành cho ngưng chiến trước.

Molotov tỏ ra không lưu tâm tới vấn đề bảo đảm sự thống nhất của Việt Nam.

Nước Pháp:

Nước Pháp thì không còn hy vọng có thể thắng được Việt Minh Cộng Sản giành lại cả những thuộc địa cũ của mình ở Ðông Dương như trước được nữa, đồng thời nội bộ bị chia rẽ trầm trọng nên nhất thời chỉ muốn giải quyết cuộc chiến mà thôi.

Vấn đề chính trị sẽ giải quyết sau.

Có hai lý do.

Một mặt Pháp bị kẹt với chính phủ Quốc Gia Việt Nam của Cựu Hoàng Bảo Ðại vì ngày 4 tháng 6 năm 1954, Pháp đã ký với chính phủ này hai thỏa ước công nhận nền độc lập hoàn toàn và chủ quyền về mọi phương diện của Việt Nam.

Với tư cách này Việt Nam đã gia nhập khối các quốc gia liên kết với Pháp, đồng thời ngoại trưởng Bidault đã hứa bằng lời nói và bằng văn thư với Bảo Ðại là sẽ không có chuyện chia đôi lãnh thổ.

Mặt khác là vấn đề chính trị có liên quan đến những giải pháp cho Miên và Lào và quyền lợi trong tương lai của Pháp ở cả ba xứ Ðông Dương.

Hoa Kỳ:

Hoa Kỳ thì muốn can thiệp hơn vào Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của thế giới Cộng Sản nhưng vẫn do dự và bất mãn với Pháp vì cho rằng Pháp không cho Hoa Kỳ biết rõ những gì đã xảy ra và Pháp chủ trương những gì trong giai đoạn tới.

Khi hội nghị được triệu tập, Hoa Kỳ chỉ tham dự như một quốc gia thân hữu với một vai trò phụ thuộc đối với các nước không cộng sản, tức các quốc gia liên kết và Pháp.

Do đó vào cuối tháng Tư, Ngoại Trưởng Dulles chỉ lưu lại Genève có một tuần và chỉ để lại một phái bộ cấp thấp hơn sau đó với vai trò quan sát nhiều hơn là tham dự.

Chúng ta cũng cần phải lưu ý là trước đó Washington đã rất quan tâm đến tình hình Ðông Dương và Ngoại Trưởng Dulles vào hạ tuần tháng 4 năm 1954 khi đến Paris họp Hội Ðồng Bắc Ðại Tây Dương đã nhận được lời cầu cứu khẩn cấp của ngoại trưởng Pháp Bidault để cứu vãn tình trạng nguy ngập của quân dội Pháp ở Ðiện Biên Phủ.

Dulles đã hoạt động rất tích cực để có sự hỗ trợ của ngoại trưởng Anh Eden nhưng không thành công.

Không những thế, những đề nghị của ông nhằm thiết lập một hiệp ước an ninh Á Châu và về các hành động chung cũng bị chính phủ Anh bác bỏ.

Tổng Thống Eisenhower cuối cùng đã loan báo là Mỹ sẽ không làm gì trong khi chờ kết quả của hội nghị Genève.

Không chấp nhận nhượng bộ lại không dám tham chiến khi không có sự thỏa thuận của đồng minh, thái độ lơ lửng này của Washington đã làm cho sứ mạng của Dulles trở thành bất khả thực hiện.

Trung Cộng:

Trường hợp của Trung Cộng thì phức tạp hơn nhiều.

Trước hết Trung Cộng vào năm 1954 mới làm chủ được Trung Hoa Lục Ðịa được ít năm, chưa có được một vai trò quốc tế nào nên muốn có vai trò này, đồng thời vì nước này vừa mất khoảng một triệu quân ở chiến trận Cao Ly nên tìm cách ngăn chặn không cho Hoa Kỳ có cớ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam.

Chưa hết, Trung Cộng còn muốn chứng tỏ cho Ấn Ðộ, Nam Dương và các nước không liên kết một thái độ ôn hòa, không bành trướng của mình, đồng thời thực thi chủ trương cố hữu của Trung Quốc là không muốn thấy một nước Việt Nam quá mạnh và muốn chia vụn khu vực Ðông Nam Á.

Ðối với Nga, Trung Cộng rất cần viện trợ kinh tế của Nga nên phải hỗ trợ Nga trên chính trường quốc tế.

Hội Nghị Genève là một dịp hiếm có để Trung Cộng thực hiện những chủ trương này.

Trong hoàn cảnh đó, ngày 20 tháng 5, theo sự khởi xướng của Nga, Châu Ân Lai đã đồng ý tách rời hai khía cạnh quân sự và chánh trị của vấn đề Ðông Dương thành hai đề tài thảo luận riêng biệt.

Sau đó, sang tháng 6, sau khi Pháp công nhận Quốc gia Việt Nam là một nước hoàn toàn độc lập và có chủ quyền với tất cả những tính chất và những quyền hạn theo quốc tế công pháp thì Châu Ân Lai đã tuyên bố ngay là ông thừa nhận sự tồn tại của hai chính phủ tại Việt Nam và thỏa hiệp cuối cùng về một giải pháp chính trị cho Việt Nam sẽ do sự điều đình trực tiếp giữa hai chính phủ này.

Châu Ân Lai cũng tỏ ra có ảnh hưởng mạnh mẽ với phái đoàn Việt Minh.

Bằng chứng là khi bàn về sự hiện diện của quân đội Việt Minh ở Lào và Miên, lúc đầu Việt Minh chối bỏ là không hề có bộ đội xâm nhập vào Lào và Miên, sau đó, theo các nhà quan sát đương thời, dưới áp lực của Châu Ân Lai, họ sửa lại là có một ít tình nguyện quân nhưng đã rút rồi, sau đó lại điều chỉnh là nếu còn có phần nào bộ đội của họ ở những nơi này thì các bộ đội này sẽ rút.

Nhưng đóng góp lớn nhất của Châu Ân Lai vào sự thành công của Pháp và Nga ở Hội Nghị Genève là sự bay về Á Châu của ông để gặp và áp lực với Hồ Chí Minh để ông này chấp nhận những gì đã được các nước này thỏa thuận.

Việt Minh:

Việt Minh, hay dùng danh xưng chính thức của chính phủ do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thì tỏ ra rất và ngay cả quá tự tin: tự tin vào thế chiến thắng của mình, tự tin vào kinh nghiệm học được từ các nước Cộng Sản khác trong chiến thuật vừa đánh vừa đàm, rồi sau này là những xảo thuật vận động quần chúng một khi có tổng tuyển cử.

Họ muốn dựa theo đà chiến thắng quân sự của mình đòi một giải pháp chính trị trước và để cho người Việt tự giải quyết những mâu thuẫn riêng với nhau.

Họ cũng đòi cho những nhóm Pathet Lào và Khmer Issarak là những nhóm Cộng Sản ở Lào và Miên mà họ nâng đỡ được công nhận.

Theo nhận xét của một tác giả Mỹ, trong suốt 25 năm trước đó, Cộng Sản Việt Nam đã trung thành theo những chỉ thị đến từ Mạc Tư Khoa thì ở Genève họ đã không đi ra ngoài khuôn phép ấy.

Các tác giả của Pentagon Papers thì dẫn lời của Jean Chauvel, đại sứ Pháp ở Berne và là người trực tiếp điều đình trong phái đoàn Pháp ở Genève là ông này linh cảm rằng sau những buổi tiếp xúc riêng với phái bộ Trung Quốc thì phe Việt Minh đã thực sự ở đầu cuối sợi dây được những bàn tay từ Mạc Tư Khoa hay Bắc Kinh nắm giật.

Ðiều này không có gì là khó hiểu vì Hồ Chí Minh là người của Cộng Sản Quốc Tế và vì Việt Nam không hề có thực lực để theo đuổi cuộc chiến.

Tất cả tùy thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc.

Quốc Gia Việt Nam:

Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Ðại làm quốc trưởng thì tham gia với tư cách một chính phủ quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp bên cạnh các phái đoàn chính thức của Lào và Miên.

Tuy nhiên, để củng cố thêm cho tính cách độc lập và uy thế của mình, trong thời gian này, phía Quốc Gia sau một thời gian dài tranh đấu và đòi hỏi, đã đạt được hai thỏa ước mới và riêng rẽ do hai thủ tướng Joseph Laniel và Bửu Lộc ký kết vào ngày 4/6/1954 về nền độc lập của Việt Nam và sự liên kết giữa hai nước.

Hai thỏa ước này đã bổ khuyết và kiện toàn nền độc lập của Việt Nam trước đó đã được công nhận bằng hiệp định Elysée giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, với tư cách hai quốc trưởng.

Khi Mendès France thay thế Laniel làm thủ tướng, Mandès France lại hứa tôn trọng những thỏa ước này mặc dầu nó chưa được Quốc Hội Pháp thông qua.

Ðây là những thỏa ước ít được mọi người biết đến mặc dầu nó vô cùng quan trọng vì theo đó Việt Nam được Pháp công nhận là hoàn toàn độc lập và có chủ quyền với những tư cách và quyền hạn theo quốc tế công pháp (thỏa hiệp thứ nhất) và với tư cách một nước hoàn toàn độc lập và có chủ quyền theo đó Việt Nam gia nhập khối các quốc gia liên kết của Pháp (thỏa hiệp thứ hai).

Chúng ta cần phải nhớ là lúc đầu Pháp đề nghị một thỏa ước cho cả hai vấn đề nhưng phái đoàn Việt Nam đòi hai thỏa ước riêng biệt và Pháp đã nhượng bộ.

Rất tiếc là thời gian hai thỏa ước này được ký kết là quá muộn nên không ai nói tới về sau này nữa.

Tuy nhiên chúng đã phản ảnh lập trường của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam trong suốt thời gian Hội Nghị Genève nhóm họp.

Quốc Trưởng Bảo Ðại ngay từ đầu đã luôn luôn đòi hỏi người Pháp phải tôn trọng sự thống nhất lãnh thổ của Việt Nam và chống lại mọi sự chia cắt.

Ông đã thành công trong việc đòi hỏi Ngoại Trưởng Bidault phải hứa bằng lời nói và bằng văn kiện là sẽ không bao giờ chia cắt Việt Nam coi như điều kiện để ông cử phái đoàn của Quốc Gia Việt Nam tới dự hội nghị.

Về tư thế của phái đoàn Việt Minh khi phái đoàn này được mời tham dự hội nghị thì qua sự đòi hỏi của Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Ðịnh sự hiện diện của phái đoàn này phải được coi là không có nghĩa là Việt Minh được công nhận.

Lập trường của Bảo Ðại và của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam đã gây rất nhiều khó khăn cho người Pháp.

Người Pháp đã phải mất rất nhiều thời giờ qua lại giữa Paris và Berne với Cannes rồi sau này là Evian để thuyết phục Bảo Ðại.

Sau đó, trong thời gian điều đình, người Pháp đã luôn luôn tránh gặp Bảo Ðại và phái đoàn Quốc Gia Việt Nam mà nhờ người Mỹ làm trung gian thông báo tin tức.

Ðiều này giải thích tại sao theo lời kể của Cựu Hoàng Bảo Ðại trong thời gian này có nhiều người Mỹ đã tới gặp ông trước và trong thời gian hội nghị để rồi sau đó không tới gặp ông như trước nữa.

Người Pháp sợ bị Bảo Ðại và phái đoàn Việt Nam chất vấn và làm cản trở cuộc điều đình của họ.

Một phần cũng vì vậy người Pháp chủ trương tách rời giải pháp chánh trị ra khỏi giải Pháp quân sự.

Với giải pháp quân sự thuần túy, người Pháp có thể đại diện cho các nước liên kết thỏa hiệp được.

Chúng ta cũng cần để ý là vào thời điểm này quân đội Quốc Gia mới được thành lập không được bao lâu và còn bị phụ thuộc nhiều vào quân dội Pháp, đồng thời sự chia rẽ giữa những người Việt Nam không Cộng Sản rất trầm trọng.

Bảo Ðại và phái đoàn của Quốc Gia Việt Nam do đó không ở vào một vị thế thuận lợi để nói lên và bảo vệ lập trường của mình.

Diễn tiến của các cuộc điều đình

Với những chủ trương rõ rệt kể trên, các phái đoàn Nga và Trung Cộng đã đóng những vai trò chủ động và tích cực trong những khóa họp khoáng đại hay những cuộc họp giới hạn của hội nghị cũng như trong các hoạt động ngoại vi, đúng hơn những cuộc điều đình mật.

Tất cả là nhằm vào những quyền lợi riêng của họ.

Trong tình trạng sinh hoạt phức tạp và không được qui định bằng những nguyên tắc rõ ràng này, người ta khó mà biết được một cách thật rõ ràng thứ tự của các cuộc mặc cả qua lại, nhưng mục tiêu giành quyền lợi riêng cho mình và hy sinh quyền lợi của đồng minh đã được phía Trung Cộng biểu lộ rất sớm.

Chỉ mười ngày sau buổi họp đầu tiên, ngày 18/5/1954, một phụ tá của Châu Ân Lai đã trình bày với một nhân viên của phái bộ Pháp trong một bữa ăn tối là phái bộ của ông ta tới họp là để tìm kiếm hòa bình chứ không phải để làm hậu thuẫn cho Việt Minh.

Không lâu sau đó họ Chu còn nói riêng với Anthony Eden, trưởng phái đoàn Anh, và Georges Bidault, trưởng phái đoàn Pháp, rằng ông chống lại chủ trương của Việt Minh nhằm kiểm soát Miên và Lào.

Ðến ngày 23/6, ông đã dàn xếp để bí mật gặp riêng Mendès France ở tòa đại sứ Pháp ở Bern, thủ đô của Thụy Sĩ thay vì ở Genève trong một bộ Âu phục thay vị chiếc áo lãnh tụ thường mặc nhằm gián tiếp bày tỏ ý muốn nói chuyện để điều đình thực sự theo sinh hoạt quốc tế chứ không phải theo lối đấu tranh cách mạng.

Trong cuộc gặp gỡ này, Châu Ân Lai đã nói rõ là ông chấp nhận đình chiến trước rồi sau mới bàn việc chính trị, đồng thời sẽ thúc đẩy Việt Minh chấm dứt can thiệp vào nội tình ở Miên và Lào, xa hơn là giải pháp chia đôi Việt Nam, đồng thới nhấn mạnh rằng Trung Cộng chỉ có mục tiêu duy nhất là hòa bình, hòa bình không điều kiện và không có tham vọng nào khác.

Sau đó vào cuối tháng Sáu ông đã bay trở lại Á Châu thăm Ấn Ðộ và Miến Ðiện là hai nước không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh để trình bày quan điểm sống chung hòa bình của Trung Cộng, và đầu tháng Bảy, trong ba ngày từ 3 đến 5, sau đó mới trở lại Liễu Châu gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Những chuyến công du này không có mục tiêu nào khác hơn là quảng bá và giải thích chủ trương của Trung Cộng và thuyết phục Hồ Chí Minh chấp nhận lập trường ấy.

Riêng với Hồ Chí Minh, đây phải là cuộc họp gay go và là một sự bắt ép rất nặng vì theo Võ Nguyên Giáp cuộc họp này kéo dài hai ngày trong đó, trong khi bài thuyết trình của Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh đến thế chủ động của quân đội Việt Minh với trên bản đồ "cả miền Bắc và miền Trung Việt Nam hầu như toàn màu đỏ" thì Châu Ân Lai chỉ nói tới tình hình Hội Nghị Genève với những dữ kiện làm cho "chúng tôi (Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp) đều ngỡ ngàng".

Hồi ký của Võ Nguyên Giáp cho người ta thấy ngay từ thời điểm gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, vào đầu tháng 7/1954 này, Châu Ân Lai đã nghĩ tới vĩ tuyến 17 trong khi sự lựa chọn chính thức chỉ xảy ra về sau này, vào ngày 20/7, ở biệt thự tạm trú của trưởng phái đoàn Nga Vyacheslav Molotov với sự hiện diện của Mendès France, Anthony Eden, Châu Ân Lai và Phạm Văn Ðồng.

Cuộc mặc cả bắt đầu với sự nhượng bộ của Phạm Văn Ðồng, từ vĩ tuyến 13 chuyển lên vĩ tuyến 16, trong khi Mendès France vẫn giữ vĩ tuyến 18.

Cuối cùng do sự đưa đẩy của Molotov vĩ tuyến 17 đã được lựa chọn.

Sang phần chính trị

Mendès France đề nghị bỏ ngỏ không ấn định thời hạn cho cuộc tổng tuyển cử.

Phạm Văn Ðồng lúc đầu đề nghị sáu tháng, sau sửa lại thành một năm và có thể mười tám tháng.

Cuối cùng Molotov đề nghị hai năm và đương nhiên là được đa số hiện diện chấp thuận.

Hiệp Ðịnh Genève

Hội Nghị Genève kết thúc với hiệp định đình chiến gồm 47 điều được ký kết và một bản tuyên ngôn cuối cùng đã được thông qua bằng miệng.

Hòa bình được tái lập nhưng đất nước bị chia đôi với vĩ tuyến 17 trở thành ranh giới giữa hai miền Nam Bắc, dân chúng được tùy nghi lựa chọn miền cư ngụ.

Một Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến đã được thành lập với đại diện của Ấn Ðộ làm chủ tịch, của Gia Nã Ðại và Ba Lan làm hội viên.

Bản tuyên ngôn cuối cùng đã đề cập đến vấn đề tổng tuyển cử để thống nhất đất nước sau hai năm dưới sự giám sát của Ủy Hội Quốc Tế.

Quốc Gia Việt Nam đã không chấp nhận tham gia sự thông qua bản tuyên ngôn này và đã ra một bản tuyên ngôn riêng xác nhận sự tôn trọng hòa bình của mình nhưng đòi hỏi tổng tuyển cử phải do Liên Hiệp Quốc giám sát.

Hoa Kỳ cũng vậy, cũng bầy tỏ thái độ yêu chuộng hòa bình nhưng nhấn mạnh là sẽ nghiêm trọng cứu xét nếu có sự vi phạm thỏa hiệp đình chiến.

Ngày quốc hận

Ðối với rất đông người Việt, sự chấp nhận chia đôi lãnh thổ quốc gia là một điều không thể chấp nhận được và là một sự phản bội vì đây là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của cuộc tranh đấu từ những ngày đầu của dân tộc bên cạnh nền độc lập.

Ngày 20 tháng 7 từ đó đã trở thành Ngày Quốc Hận và được cử hành hàng năm ở miền Nam cho mãi đến năm 1975 mới chấm dứt.

Riêng ở hải ngoại ngày này đã được thay thế bằng ngày 30 tháng 4, ngày miền Nam sụp đổ vào năm 1975.

Ðối với chế độ Cộng Sản, cái nhìn về ngày 20 tháng 7 có thể khác.

Có điều họ đã không thành công ở Hội Nghị Genève như họ đã mong đợi.

Hai nước đồng minh và là đàn anh của họ không những đã không ủng hộ họ, lại còn bắt ép họ phải nhượng bộ.

Rút cuộc, Võ Nguyên Giáp thắng ở Ðiện Biên Phủ, nhưng Phạm Văn Ðồng đã thua ở Genève, dù cho ông này đã toát mồ hôi để bảo vệ lập trường của mình.

Ðiều này giải thích tại sao nhà cầm quyền Hà Nội sau đó đã không cho phổ biến những chi tiết về Hội Nghị Genève cũng như Hiệp Ðịnh Genève và đã mập mờ không nói rõ bản chất thực sự của các văn kiện.

Nói cách khác, chánh quyền Cộng Sản Hà Nội trong thời gian điều đình cũng như sau khi Hiệp Ðịnh Ðình Chiến đã được thông qua đã không cho quần chúng, kể cả các cán bộ trung cấp biết Hội Nghị đã diễn tiến ra sao, lập trường các phe như thề nào, và nội dung gồm có những khoản gì.

Nhưng dù sao, từ những căn cứ ở sâu trong rừng núi, sau ngót chín năm chiến đấu bằng súng đạn và bằng mạng sống của trên dưới một trăm ngàn vừa bộ đội, vừa dân công, Hồ Chí Minh và những người theo ông đã về được Hà Nội, chính thức được kiểm soát một nửa lãnh thổ của quốc gia.

Ðây cũng đã là một thắng lợi lớn cho những người Cộng Sản rồi.

Còn Pháp thì ngược lại.

Ðược Nga và Trung Cộng ủng hộ, Pháp đã đạt gần hết những gì Pháp muốn, từ việc tách rời ngưng bắn ra khỏi chánh trị, loại Việt Minh và phe Cộng Sản Miên, Lào ra khỏi những quốc gia này, đến việc nâng đường ranh chia cắt từ vĩ tuyến 13 lên vĩ tuyến 17, bảo vệ được hải cảng Ðà Nẵng rất cần thiết cho Lào và Cố Ðô Huế cho miền Nam sau này.

Những kinh nghiệm không được những người trong cuộc rút tỉa

Thái độ của hai nước Nga và Trung Cộng ở Hội Nghị Genève cho người ta thấy rất rõ một sự thực đơn giản là trong liên hệ giữa các quốc gia, quyền lợi mỗi quốc gia riêng lẻ luôn luôn được đặt lên trên hết dù là giữa các quốc gia Cộng Sản.

Cũng vậy giữa những nước lớn và những nước nhỏ, giữa những nước mạnh và những nước yếu.

Kinh nghiệm này dường như đã không được những người Cộng Sản Việt Nam, mà đại diện trong một thời gian dài là Phạm Văn Ðồng, chú ý tới.

Giữa những người Việt không Cộng Sản và người Tàu, người Nga, trong những năm sau đó, họ đã lựa chọn người Tàu, người Nga, không để ý tới yếu tố đồng bào ruột thịt.

Họ đã cố tình vi phạm hiệp định mà họ đã chấp nhận ngay từ đầu bằng cách không cho tập kết hết cán bộ, quân lính của họ ra Bắc, trong đó có cả Lê Duẩn, người sau này đã trở thành bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam, dùng võ lực chiếu cố miền Nam và đã tạo cơ hội cho nước Mỹ can thiệp sau đó, khiến cho chiến tranh bùng nổ trở lại.

Hậu quả là hơn ba triệu người bị chết một cách oan uổng và thù hận giữa những người dân cùng một nước đã mỗi ngày một dày, mỗi ngày một sâu hơn.

Con số người chết này mang rất nhiều ý nghĩa nếu người ta để ý tới con số tử vong chưa tới một trăm ngàn của Chiến Tranh Việt Pháp, 1946-1954, trước đó và những nạn dân gián tiếp vì là thân nhân, bạn bè của họ.

Con số nạn nhân của cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai do đó phải nhân lên từ năm tới mười lần.

Ðiều này giải thích tại sao phong cảnh Việt Nam từ sau năm 1975 lại mang quá nhiều màu trắng của những nghĩa trang liệt sĩ và tại cứ gần tết ở các làng miền Bắc người ta lại giỗ đồng lúc các chồng con tử sĩ.

Cũng vậy thay vì hỗ trợ cho miền Nam trong nỗ lực bảo vệ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Ðồng lại công nhận hải phận mới do Trung Cộng vẽ lại vào năm 1958 rồi hoàn toàn yên lặng vào năm 1974 khi Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa.

Nguyên nhân chính không ngoài sự tùy thuộc, hay trung thành của đảng Cộng Sản Việt Nam vào Cộng Sản quốc tế lãnh đạo bởi Nga và Trung Cộng để đổi lấy viện trợ của Nga và Trung Cộng.

Giữa người dân và Cộng Sản Quốc Tế, Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn Cộng Sản Quốc Tế và đã trở thành nước duy nhất trong số bốn nước bị phân chia vì chủ trương Quốc - Cộng đã dùng võ lực để thống nhất lãnh thổ.

Ðó là điểm then chốt của vấn đề và là kinh nghiệm mà lẽ ra ngay từ năm 1954 họ phải rút tỉa.

Hậu quả ra sao, bây giờ mọi người đã thấy rõ.

Riêng đối với người Việt Quốc Gia, mặc dầu không cản được sự chia đôi đất nước, họ vẫn có được một nửa thay vì chỉ có một phần ba lãnh thổ, từ vĩ tuyến 13 trở xuống, nhờ người Pháp, dầu cho thua trận, sớm muộn cũng phải ra đi, nhưng vẫn từng bước giữ lại những gì có thể giữ được cho đồng minh đã liên kết với mình.

Ðây là một mảnh đất tạm dung cho những ngưới Việt không cộng sản trong 20 năm sau đó, trước khi giông tố lại đổ ập tới.

Chính trên mảnh đất này, họ đã tom góp, tu bổ lại những di sản của cha ông, đã nuôi dưỡng hay sanh thêm những thế hệ mới, đã có dịp tiếp xúc, học hỏi từ thế giới bên ngoài.

Bỏ qua một bên những gì thuộc giới lãnh đạo mà nhiều người không hãnh diện, những gì họ đã tom góp rồi bồi bổ thêm trong mọi lãnh vực, kể cả trong những lãnh vực sáng tạo như văn chương, âm nhạc, và nghệ thuật, đã trở thành những vốn liếng vô cùng quí giá và độc đáo để họ mang theo khi dời bỏ đất nước ra đi trong phần tư cuối cùng của thế kỷ hai mươi vừa mới chấm dứt.

Những vốn liếng này, kèm theo những kinh nghiệm họ đã thâu lượm được về đủ mọi phương diện trước đó phải được nhìn như những dữ kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam hiện đại, nói chung, và lịch sử Người Việt Hải Ngoại, nói riêng, trong một công trình nghiên cứu mà người viết nghĩ rằng rất nên và có thể thực hiện được.

Riêng về những kinh nghiệm người Việt Quốc gia đã không rút tỉa được vì lý do này hay lý do khác là kinh nghiệm thiết lập ngoại giao với các nước trên thế giới.

Trong thời gian họp Hội Nghị ở Genève, Ngoại Trưởng Trung Cộng Châu Ân Lai đã bày tỏ sự công nhận cả hai chánh phủ Việt Nam, sau đó trong buổi tiếp tân từ giã, họ Châu lại mời bào đệ của Tổng Thống Diệm là ông Ngô Ðình Luyện với những lời ngỏ có tính cách mở đường, bất chấp phản ứng của Phạm Văn Ðồng và phái đoàn của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Chưa hết, sau này Châu Ân Lai còn gửi thư cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm muốn gợi ý cho một sự thiết lập bang giao giữa hai nước một lần nữa.

Tất cả đều không được hồi âm.

Vào những năm này, sự lơ là của các nhà cầm quyền ở miền Nam dù sao vẫn còn có thể hiểu được.

Trên đây là ý kiến của GS sử học Phạm Cao Dương, quí vị độc giả có nhận định gì khác xin mời sử dụng Hộp tiện ích đặt bên góc phải, phía trên, để gửi ý kiến tranh luận, xin viết bằng phông chữ Unicode.

GS Phạm Cao Dương là tiến sĩ Sử học, năm nay 68 tuổi. Trước 1975 làm việc tại đại học Văn Khoa và Sư Phạm, thuộc Viện đại học Sài Gòn. Năm 1975 tiếp tục làm việc trong ngành giáo dục, là chuyên viên nghiên cứu hay giảng dạy ở các đại học của California như UC Berkeley, UCLA, UC Irvine. Ông là tác giả của nhiều sách và bài khảo cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam, hiện đang tiếp tục soạn bộ Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam.

-------------------------------------------------------------------------------------------

Trần Kỷ, Úc
Tôi đọc rất lấy làm thú vị về những quan điểm của GS Phạm Cao Dương, đặc biệt là về thỏa ước giữa Pháp và Quốc gia Việt Nam ký, 4.6.1954, trong đó Pháp công nhận chủ quyền độc lập của Quốc gia Việt Nam. Rõ ràng là hiệp định Geneva có 1 điều khoản qui định về cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam 2 năm sau đó, tức là vào tháng 7 năm 1956. Hiệp định Geneva có được người Pháp ký và tuyên bố công nhận, Pháp và các chính quyền phụ thuộc phải có trách nhiệm thi hành hiệp ước này. Điều này là không thể phủ nhận. Câu hỏi mà chúng ta thường gặp là Quốc gia Việt Nam có chịu trách nhiệm thi hành hiệp định Geneva này hay không. Theo cách nhìn của GS Phạm Cao Dương, thì với thỏa ước 4.6.1954, người đọc có thể suy diễn là Quốc gia Việt Nam không phụ thuộc vào Pháp, và do vậy có quyền phủ nhận hiệp định Geneva đó.

Tôi có cảm giác đây là điều GS Phạm Cao Dương muốn nhắm tới. Nếu đây là lý do để Quốc gia Việt Nam không tôn trọng hiệp định Geneva thì quả là kỳ lạ. Sau khi Pháp ký hiệp định Geneva, Pháp cũng ký với Mỹ, Anh, Thailand, Philippine và một vài quốc gia khác một hiệp ước phòng thủ chung vào cuối năm 1954 (SEATO). Đây là cơ sở pháp lý để VNCH "nhờ" Mỹ vào bảo vệ sau này. Theo cách nhìn, thỏa ước 4.6.1954 cho phép Quốc gia Việt Nam phủ nhận hiệp định Geneva, thì rõ ràng hiệp ước phòng thủ chung SEATO do Pháp ký là vô giá trị. Do đó việc Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam là hoàn toàn không có một sơ sở pháp lý nào. Một nửa thế kỷ đã qua, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên trả lại sự thật đầy đủ, chứ không nên chỉ nói một nửa phần sự thật có lợi cho mình, nhất là khi người nói đó lại là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp về chủ đề này.

Toàn Xuân, tp.HCM

Đọc bài của GS sử học Phạm Cao Dương, thoạt nhiên bạn đọc cảm thấy thú vị vì những nhận định và thông tin đưa cung cấp, dừng như lịch sử VN gia đoạn này đúng là như vậy. Thế nhưng, bài học gì rút ra được từ đây? Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn Trần Kỷ, người Mỹ không có lý do chính đáng nào khi can thiệp vào VN. Chỉ có thể dùng 2 chữ XÂM LƯỢC để nói lên bản chất cuộc chiến tranh 20 năm của Mỹ gây thảm cảnh nhồi da xáo thịt dân tộc VN. Tất cả các cường quốc : Nga, Mỹ, Anh, Pháp, TQ,...đều có mục đích riêng của họ khi tham gia hiệp định Geneve. VN hay Triều Tiên, thậm chí nước Đức, không thể tránh khỏi bị chia cắt bởi sức mạnh ngoại bang. Nhưng Bắc Việt vẫn quyết chiến để thống nhất toàn vẹn nước nhà, chấm dứt hoàn toàn một giai đoạn lịch sử đen tối của nước nhà, giai đoạn bị đô hộ, bị xâm lăng, chiếm đóng. Tôi chỉ thấy một bài học là luôn phải chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước, bảo vệ danh dự dân tộc.