Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
29 Tháng 8 2008 - Cập nhật 16h44 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
Đổi mới cần có đa nguyên văn hóa
 

 
 
Tranh của họa sĩ nước ngoài trưng bày ở Bảo tàng Mỹ Thuật ở Hà Nội
Trào lưu trao đổi văn hóa Đông Tây đang đến với Việt Nam
Nhân cuộc tranh luận về vai trò phản biện của giới trí thức và những người làm truyền thông tại Việt Nam, BBC xin đăng những đoạn quan trọng trong một bài viết không được đăng trọn vẹn ở trong nước của nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ:

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia-đặc biệt là các nước nông nghiệp trong đó có Việt Nam, văn hoá thường kết tinh và phân nhánh thành hai tuyến.

Trên cơ sở thực thể đời sống kinh tế-văn hoá, đã hình thành một nhân cách cộng đồng, một tâm thức xã hội phản ánh tâm lý, lối sống của những tầng lớp quần chúng bình dân.

Mặt khác, phản ánh và để duy trì những thiết chế chính trị, đã xuất hiện một hệ tư tưởng chính thống đúc kết những quan điểm, nếp nghĩ mang tính chuẩn mực mô hình của giai tầng thượng lưu thống trị.

Một hệ quả của đa dạng, đa nguyên văn hoá chính là tinh thần khoan dung khoan thứ (tolérence). Đó chính là một chính sách chung sống hoà bình về văn hoá tư tưởng, mà có lúc đã bị coi là điều cấm kỵ.

Trong lịch sử, cũng như Trung Hoa, Việt Nam đã có cả một truyền thống lâu đời về khoan dung tôn giáo (Tam giáo đồng nguyên), tạo cơ sở cho tinh thần đoàn kết xã hội, đoàn kết dân tộc.

Đối trọng và phản biện

Về mặt xã hội, đa dạng đa nguyên văn hoá là đặc trưng của một xã hội đối trọng-phản biện. Trong một xã hội có đối trọng, những quan điểm khác biệt, phi chính thống, thậm chí đối lập được phép tồn tại và phát biểu công khai hợp pháp, miễn là nó không phải là những hành động vi hiến.

Những người theo chủ nghĩa độc quyền chân lý, một khi có quyền lực trong tay, thường cho thi hành chính sách cực quyền toàn trị văn hoá (total itarisme culturel), một dạng thức của chủ nghĩa duy ý chí cực đoan trong việc áp đặt văn hoá.

 Việt Nam đã có cả một truyền thống lâu đời về bao dung tôn giáo, tạo cơ sở cho tinh thần đoàn kết xã hội, đoàn kết dân tộc
 
TS Nguyễn Thừa Hỷ

Xuất phát từ một định đề mang tính chất tiên quyết cho rằng chỉ có mình là duy nhất đúng đắn, những chính thể toàn trị này đã can thiệp sâu vào mọi mặt của đời sống văn hoá tư tưởng của dân chúng, áp đặt, bắt buộc mọi người phải suy nghĩ, hành xử, sống theo một khuôn mẫu, và những tiêu chí chuẩn mực đã định sẵn, dựa theo những giáo điều kinh viện cổ điển lấy làm nguyên mẫu của mọi hệ tư tưởng chính thống.

Chủ nghĩa toàn trị văn hoá về mặt xã hội đã tạo nên những mô hình ảo, về mặt con người đã tạo nên những mẫu người ảo, chỉ có trong quan niệm ý tưởng chủ quan, chứ không tồn tại (hoặc tồn tại rất cá biệt) trong cuộc sống thực tế. Đó là những xã hội, những con người “như nó phải có” (comme il faut) chứ không phải “như nó vốn có” (comme il est).

Những tham vọng không tưởng về đời sống văn hoá của những thể chế toàn trị là rất lớn. Để chiến thắng và duy trì trật tự, họ muốn đồng phục hoá, toàn bộ xã hội về mặt trí óc để dễ bề cai quản. Có thể coi đó là hành động nhân bản sinh sản vô tính về văn hoá, tạo nên những thế hệ rôbốt triệt tiêu mọi cá tính cũng như tính đa dạng văn hoá.

Cuộc sống đã chứng minh rằng, mọi chủ nghĩa, thể chế toàn trị về chính trị cũng như về văn hoá, dù có thể đã tồn tại được trong một thời gian ngắn hay dài, nhưng cuối cùng đều không tránh khỏi bị lịch sử phản bác vào đào thải.

Bên cạnh hiện tượng thần thánh hoá cá nhân, là hiện tượng thần thánh hoá, tuyệt đối hoá những học thuyết, chủ nghĩa được dùng làm hệ tư tưởng thống trị. ở đây, học thuyết đã biến thành những giáo điều kinh thánh, người theo học thuyết trở thành những tín đồ nhiều khi đến mức mê muội, cuồng tín…

Sự thực, không phải tất cả những môn đệ của chủ nghĩa giáo điều đều là những người ngu tín, tin tưởng một cách ngây thơ, cố chấp và mù quáng. Họ cũng đã nhận ra những khuyết tật, sự lỗi thời của học thuyết nhưng trong điều kiện của một môi trường mà đa dạng, đa nguyên văn hoá bị thủ tiêu, họ đã trở thành những tù binh của ý thức hệ.

Họ không vượt qua được bản thân mình để dám nghĩ khác, nói khác những điều chính thống đã từng ngự trị và chi phối đời sống tinh thần của họ, nghĩa là không dám nói lên sự thật. Và lúc đó, sự dối trá sẽ trở thành một bệnh dịch tinh thần lan truyền trong xã hội, trong đó, người ta vừa là những tòng phạm, vừa là những nạn nhân.

Tính toàn cầu

Liên Hợp Quốc và tổ chức UNESCO trong khóa họp lần thứ 31 ngày 2 tháng 11 năm 2001, Hội nghị toàn thể của UNESCO đã nhất trí thông qua "Bản tuyên ngôn phổ quát về đa dạng văn hóa" mang nhiều ý nghĩa với phần Dẫn luận và 12 điều khoản.

Tuyên ngôn nhấn mạnh rằng đa nguyên văn hóa cũng cần thiết đối với nhân loại như đa dạng sinh học đối với thế giới tự nhiên. Nó là di sản chung của loài người, thừa nhận tính đặc hữu, nhiều vẻ của bản sắc của những xã hội và những nhóm người khác nhau của nhân loại.

Đa dạng văn hóa chính là nhân tố của sự phát triển, là nguồn sức mạnh của mọi sáng tạo…Đa dạng, đa nguyên văn hóa cần được thực hiện thông qua quyền tự do tự biểu đạt, sự bình đẳng tiếp cận tới những thông tin và công nghệ truyền thông...

Ngày nay, đa dạng văn hoá đã trở thành một xu thế lịch sử tất yếu, không thể đảo ngược được trong đời sống toàn cầu cũng như ở Việt Nam. Đó là mấu chốt, chìa khoá cho sự đổi mới văn hoá-tư tưởng.

Xã hội Việt Nam đang bước mạnh trên con đường Đổi Mới, toàn diện và triệt để, trong đó đổi mới văn hoá vừa là một hệ quả đồng thời vừa là một tác nhân. Muốn cho sự đổi mới có hiệu quả thiết thực, trước hết chúng ta cần xây dựng những điều kiện cho một hạ tầng cơ sở văn hoá mới.

Nhà nước cần tạo dựng những thiết chế văn hoá đa thành phần, cũng như đã tạo dựng một cấu trúc kinh tế đa thành phần, trong đó nguyên tắc đa nguyên văn hoá được tôn trọng, có sự chung sống hoà bình lưỡng nguyên đối trọng giữa các yếu tố nhà nước và dân gian, giữa những yếu tố quan phương-chính thống và những yếu tố phi quan phương-phi chính thống.

Sự thực đây cũng chỉ là hành động thừa nhận hợp pháp hoá một thực tế đã có, đang tồn tại trong xã hội hậu quan liêu bao cấp ngày nay cũng như nó đã từng tồn tại trong lịch sử.

Tranh của họa sĩ nước ngoài trưng bày ở Bảo tàng Mỹ Thuật ở Hà Nội
Tranh của họa sĩ nước ngoài trưng bày ở Bảo tàng Mỹ Thuật ở Hà Nội

Muốn vậy, cần giảm bớt càng ít càng tốt sự chỉ huy, can thiệp của chính quyền nhà nước vào các mặt của đời sống văn hoá nhân dân, thi hành chính sách tự do văn hoá, bên cạnh chính sách tự do kinh tế, từ bỏ nền văn hóa chỉ huy, tháo dỡ cơ chế quan liêu bao cấp về tư tưởng. Một nền văn hóa mở, khoan thứ, đa sắc và đa khuynh hướng chính là một nền văn hóa của mọi tầng lớp và mọi nhóm xã, của mọi người dân.

Cần khuyến khích để hình thành những trào lưu văn hoá mới trong quần chúng, đổi mới những quan điểm, tâm thức và hệ giá trị, theo hướng đề cao chủ thể văn hoá, ý thức về quyền lợi và trách nhiệm công dân.

Những trào lưu này phải mang tính tự nguyện, xuất phát từ chính nhu cầu của cuộc sống nhân dân, nếu có thể nói, mang đặc điểm của một “mốt thời thượng” mượn thuật ngữ "lý thuyết thiết kế cơ chế" (mechanism design theory) của nhà kinh tế học được giải Nobel 2007 Leonid Hurwigz.

Theo ý này chúng ta thấy rằng thay vì một thao tác đậm chất chủ quan, giáo điều duy y chí "xây dựng một mô hình văn hóa", nên chăng chuyển sang một thao tác mềm dẻo hơn tạm gọi là "thiết kế cơ chế văn hóa", để làm sao thu hút được tối đa số người tự nguyện tham gia vào cấu trúc và vận hành cơ chế chung, trong khi vẫn hướng tới những sở thích và lợi ích của riêng bản thân mình.

Đó không phải là sự áp đặt chủ quan một khuôn mẫu, một hệ giá trị với những tiêu chuẩn được chỉ đạo soạn thảo sẵn, từ trên ban xuống, rao giảng cho quần chúng noi theo, như kiểu bản"24 điều giáo huấn" thời Lê Thánh Tông, "47 điều giáo hóa" thời Lê Trịnh, hay "Thập huấn điều" thời Minh Mệnh.

Tuy nhiên, sự đổi mới thực chất nhất, sâu xa nhất, bền vững nhất vẫn là sự thay đổi tư duy, tâm thức, những cuộc “cách mạng tâm hồn” của từng con người trong xã hội. Chúng ta biết rằng tư tưởng tâm hồn con người chỉ có thể thay đổi một cách triệt để, một khi hiện thực cuộc sống, những điều kiện sống của xã hội thay đổi.

Đến lượt nó, khi tâm thức và nhân cách mới của cá nhân đã tồn tại một cách phổ biến, trở thành xã hội hoá, nó sẽ góp phần tạo nên một tâm thức xã hội, một nhân cách cộng đồng, làm nền tảng tinh thần cho một văn hoá mới. Đó chính là tác động tương hỗ, hai chiều giữa con người và xã hội, giữa những chiều kích nhân văn và những chiều kích kinh tế.

Tóm lại, ở Việt Nam ngày nay, đa dạng đa nguyên văn hóa chính là tiền đề và nội dung cơ bản của đổi mới văn hóa, đổi mới xã hội.

Bài viết của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thừa Hỷ, nguyên Tổng Thư Ký Hội Sử học Hà Nội, đã được đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 8/2008. Nhưng rất nhiều đoạn đã bị cắt bỏ do nhà chức trách coi là "nhạy cảm, có thể gây phương hại đến môi trường chính trị xã hội Việt Nam". Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Quý vị có ý kiến gì xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk

...........................................................

Mai Nam
Khái niệm "lề đường bên phải" đối với các hoạt động văn hoá, thông tin và tư tưởng đang được chiêm nghiệm để làm rõ trong cuộc sống. Bạn nào nhận ra những biểu hiện của khái niệm này xin cho mọi người biết để di cho đúng. Điều tôi nhận ra là cấm đa nguyên, dù là đa nguyên văn hoá.

Không nêu danh
Không rõ nhà nước VN hiểu bài viết này theo kiểu tư duy nào? Bằng tư duy biện chứng Mác-Lê chăng. Văn hóa cũng là một trạng thái tư tưởng chi phối hành động,tư tưởng tự do khó có thể tồn tại trong một chế độ toàn trị vì trong cái loại hình toàn trị tư tưởng được xem là độc quyền của kẻ cai trị. Nhà cầm quyền toàn trị luôn áp đặt tư tưởng lên người khác bằng quyền lực và luôn dị ứng với tất cả những gì thoát ra khỏi khuôn khổ.

Minh Ngọc, Brisbane
Độc quyền chính trị; áp đặt tư tưởng, nếp nghĩ một chiều cũng chính là làm ngu dân, nước hèn vì nó bóp chết sáng tạo và tinh thần cầu tiến ở con người. Nó dễ làm cho người ta hèn yếu vì không dám thành thật, thẳng thắn phát biểu và bảo vệ suy nghĩ, chính kiến của mình.

Khi người dân buộc phải nhai đi, lặp lại những thứ vô bổ thì đất nước nghèo hèn, tụt hậu là chuyện không tránh khỏi. Một chế độ thâu tóm hết quyền lực và kiểm soát truyền thông cũng có thể tồn tại nhưng trong đầy rẫy bất cập, bất an, nhất là sẽ phải đối đầu với khát vọng tự do vốn dĩ đã có trong máu thịt từng con người khi sinh ra. Bị kìm hãm càng lâu thì sức bật của nó cũng mạnh và dữ dội hơn.

CVM
Đa nguyên về văn hoá thuộc về quyền tự nhiên và tự do của con người, nó là một trong những tiêu thức để thẩm định trình độ phát triển của xã hội văn minh.

Đã có thời, người ta nhập khẩu một ý thức hệ "thông thái" về áp đặt một cách chuyên chế, gạt bỏ tất cả hệ thức tư tưởng khác, bao gồm cả hệ thức gốc của Dân tộc. Như vậy là không tốt cho tất cả, bởi bằng cách này hay cách khác nó đã tước bỏ quyền tự do dân sự, người ta không thể làm điều gì theo đúng đạo lý, mất hết đạo đức mà không tự biết, bị vô cảm trước những điều xấu, để tồn tại họ tự bán mình một cách dễ dàng và điều đó được định nghĩa là "quan hệ nô lệ dân sự".

Bài của Nguyễn Thừa Hỷ rất đáng lưu ý, nhưng cần phải làm rõ hơn sợi dây xuyên suốt lịch sử, định hình được văn hoá gốc của Dân tộc VN, từ những điều cơ bản mà hình thành tính cách chung của một xã hội người, tạo ra nguyên khí của Quốc gia.

Lịch sử cũng chứng minh rằng dù Đất nước có bị trinh phục tới 1000 năm bắc thuộc, hơn 80 năm Pháp thuộc, hay bất cứ một giá trị nào khác, thì văn hoá gốc của người Việt Nam không thể mất, nó vượt ra ngoài hoặc chống lại, buộc mọi thứ khác phải thay đổi cho phù hợp và đã có những thời kỳ văn hoá VN phát triển rực rỡ.

Sử Việt, Hà Nội
Trong lịch sử Việt Nam, kẻ từ khi giành độc lập từ tay Phong Kiến phương Bắc, các chế độ quân chủ không quá áp đặt những vấn đề về tư tưởng và tôn giáo - nền tảng của văn hóa. Sau khi chính quyền về tay Đảng cộng sản hiện nay, đã có thời gian chính quyền kiểm soát chặt chẽ các hoạt động về văn hóa, tư tưởng, cái thời mà gần đây các nhà nghiên cứu của chính Đảng cộng sản Việt Nam gọi là "chủ quan, duy ý chí". Vào thời gian đó, mội hoạt động sáng tác đều bị kiểm duyệt chặt chẽ, nhiều văn nhân bị đàn áp. Hậu quả của thời kỳ đó là Việt nam đi theo vết xe đổ của các nước Cộng sản anh em, làm cho nhân dân cực khổ lầm than trong suốt hơn 10 năm Bao cấp.

Gần đây, sau một thời gian tương đối nới lỏng tư tưởng, văn hóa, Đảng cộng sản lại có xu hướng quay lại thời kỳ bao cấp, tuy có tiến bộ hơn một chút trong lĩnh vực sáng tác văn học, nghệ thuật. Đảng kiểm soát chặt chẽ hoạt động báo chí, tư tưởng. Có thể nói nôm na là chỉ có một mình Đảng có quyền nói còn người dân, trí thức phải im miệng hoặc phải nói theo đúng chỉ dẫn thậm chí nhại lại những lời của Đảng.

Đổi mới đem sự phát triển kinh tế ngoạn mục là một thành công rất lớn của Đảng cộng sản trong thời gian qua, nhưng những giá trị vật chất đem lại không thể so sánh với các giá trị về văn hóa và tinh thần. Ví như khi người ta đói thì cần no, đến khi đã no, đủ người ta cần một cuộc sống tự do, hạnh phúc hơn.

 
 
Diễn đàn BBC
Họ tên
Nơi gửi đi
Điện thư
Điện thoại (tùy ý)*
* không bắt buộc
Ý kiến (350 từ)
 
  
BBC có thể biên tập lại thư mà vẫn giữ đúng nội dung ý kiến và không bảo đảm đăng mọi thư gửi về.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Hà Nội họp báo về vụ Thái Hà
29 Tháng 8, 2008 | Việt Nam
Việt Nam trong lộ trình ASEAN
20 Tháng 8, 2008 | Việt Nam
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân