Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
06 Tháng 4 2005 - Cập nhật 09h06 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Khía cạnh ngoại giao trong chiến tranh VN (phần một)
 
Vì sao những người cộng sản đã chiến thắng trong cuộc chiến ở Việt Nam?

Đã có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Có người quy trách nhiệm cho các sai lầm từ các nhà hoạch định chính sách Mỹ; người lại phân tích về khả năng lãnh đạo và chiến lược của những người cộng sản.

William Duiker, tác giả quyển “Hồ Chí Minh: A Life” (2000), cho rằng cần phải nhìn nhận, dù đã có sai lầm gì tại Washington hay Sài Gòn, thì chiến thắng của người cộng sản ở Việt Nam là một thành tựu gây kinh ngạc và là bằng chứng cho khả năng chiến thuật, chiến lược của những người hoạch định chiến tranh ở Bắc Việt, cũng như ý chí và lòng hy sinh của nhiều triệu người ủng hộ trên toàn quốc.

Ông cũng cho rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt, trong hai thập niên, đã thành công trong việc vận động tình hình quốc tế để nhận sự ủng hộ mà thường là miễn cưỡng của các đồng minh chính, cũng như giành được cảm tình từ nhiều dân tộc trên thế giới.

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, xin giới thiệu nhận định sau đây của một trong những chuyên gia kỳ cựu về Việt Nam.

Bản tiếng Việt là phần trích từ tiểu luận mang tiêu đề “Victory by Other Means: The Foreign Policy of the Democratic Republic of Vietnam”, in trong tập Why the North Won the Vietnam War (Marc Jason Gilbert chủ biên, NXB Palgrave Macmillan ấn hành năm 2002).

Đến cuối thập niên 1950, trong những người cảm tình với Việt Minh tại miền Nam xuất hiện thêm sức ép đòi một quan điểm cứng rắn hơn để bảo vệ cuộc cách mạng. Chính quyền Diệm ở Sài Gòn đã tăng cường nỗ lực đàn áp mọi phe đối lập. Tháng Giêng 1959, vấn đề được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Trung ương Đảng (năm 1951, đảng Cộng sản đã đổi tên thành đảng Lao động).

Một số lãnh đạo trong đảng phản đối khả năng tăng cường võ lực, không chỉ vì làm thế sẽ mất lòng các đồng minh của Hà Nội, mà còn vì lý do miền Bắc chỉ mới bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH bằng chương trình hợp tác hóa kéo dài ba năm.

Ông Hồ Chí Minh bày tỏ thận trọng để tránh khiêu khích Mỹ. Nhưng ông Lê Duẩn, nhân vật đang lên lúc này, vừa hoàn tất một chuyến đi bí mật vào Nam và ủng hộ có hành động mạnh mẽ. Cuối cùng, đảng ra một thỏa hiệp, đồng ý việc tái tục chiến tranh cách mạng trong Nam, nhưng mức độ đấu tranh chính trị và võ trang tới đâu thì vẫn chưa được giải quyết.

Sau đó, ông Hồ đi Bắc Kinh và Moscow để giải thích quyết định và xin ủng hộ. Nhưng Moscow không cam kết, còn Trung Quốc bày tỏ thận trọng. Mao Trạch Đông nói với vị khách rằng điều kiện ở Đông Dương và thế giới chưa chín muồi. Ông nói có thể mất 100 năm để thống nhất VN. Đó không phải là thông điệp mà những đồng chí nhiệt huyết của ông Hồ ở Hà Nội muốn nghe.

Một nguyên do của chính sách thận trọng là việc cần khảo sát thái độ của Mỹ. Sau hội nghị Geneva 1954 chính phủ Eisenhower đã ủng hộ mạnh mẽ ông Ngô Đình Diệm với việc mời ông thăm chính thức Washington năm 1957. Tuy nhiên, đến cuối thập niên này, xuất hiện lo ngại ở Washington do có sự chống đối Diệm tại miền Nam và có xung đột giữa chính phủ hoàng gia Lào với lực lượng Pathet Lào. Lúc này có viễn cảnh Mỹ đưa quân can thiệp vào Lào, nên Hà Nội đã phải cảnh báo Pathet Lào không đẩy nhanh tình hình đi đến chỗ tiêu diệt chính phủ hoàng gia ở Vientiane.

Cùng lúc, Hà Nội có thêm một vấn đề là cuộc xung đột ý thức hệ giữa Moscow và Bắc Kinh. Việc Hà Nội muốn duy trì quan hệ tốt với cả hai nước này chắc chắn đã cản trở việc đưa ra một chính sách hoàn chỉnh cho việc thống nhất.

Tuy nhiên, lúc này những thay đổi trong chính sách của Hà Nội đã xuất hiện. Họ thành lập một mặt trận mới – Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam – để lãnh đạo phong trào ở miền Nam. Mục tiêu công khai của mặt trận là buộc cố vấn Mỹ rút khỏi miền Nam và thành lập chính phủ liên hiệp. Để trấn an người nước ngoài và các nhân tố trung dung ở miền Nam, không hề có sự nhắc tới CNCS hay về liên hệ trong tương lai với Đảng cộng sản.

Nếu một trong các mục tiêu của việc thành lập mặt trận là giảm bớt sự nghi ngờ của Mỹ về liên hệ giữa phong trào nổi dậy trong Nam và miền Bắc, thì mục tiêu này đã không mấy thành công. Ngay sau khi đắc cử năm 1961, tổng thống Kennedy ra lệnh thành lập một nhóm để đánh giá tình hình miền Nam và đề xuất biện pháp ngăn việc cộng sản chiếm Sài Gòn.

Nhưng Washington lúc này lo ngại nhiều hơn về tình hình ở Lào. Không muốn đưa quân Mỹ vào nước này, Kennedy chọn giải pháp có hội nghị hòa bình ở Geneva để ngừng bắn và thành lập chính phủ trung lập tại Lào.

Việc đưa vấn đề Lào ra bàn hội nghị, đối với Hà Nội, là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang tìm lối ra khỏi Đông Dương. Trong các cuộc họp, ông Hồ Chí Minh nói rằng Hoa Kỳ, nước không có quyền lợi an ninh cốt tử trong khu vực, chỉ muốn giữ thể diện tại Đông Dương. Với niềm tin đó, Hà Nội đi tìm phương thức đưa Mỹ ra khỏi miền Nam thông qua đàm phán để thành lập một chính phủ liên hiệp mà bề ngoài sẽ trung lập nhưng rồi người cộng sản sẽ nắm đa số.

Tuy vậy, Hà Nội đã có lạc quan sai về Washington. Sự nghi ngờ cộng sản và nỗi sợ về thuyết domino tiếp tục chi phối chính trị ở Mỹ. Mặc dù các cuộc thăm dò nhau đã diễn ra trong mùa hè 1962, nhưng Nhà Trắng mau chóng mất kiên nhẫn khi họ nhận ra rằng Bắc Việt không có ý định làm theo sự bảo đảm của Liên Xô rằng Bắc Việt sẽ không lợi dụng thỏa thuận ở Lào để tăng cường vận chuyển người và thiết bị vào miền Nam thông qua ngả Lào.

Khi viễn cảnh Mỹ rút khỏi miền Nam bị khép lại, Hà Nội quay lại lựa chọn quân sự. Tháng 12-1963, Trung ương đảng xem xét khẩn cấp đề nghị tăng tốc sức ép quân sự ở miền Nam với hy vọng chiến thắng nhanh chóng trước khi Washington kịp quyết định có can thiệp hay không. Tuy vậy, một quyết định như thế sẽ tăng khả năng chiến tranh rộng lớn. Lúc này, Bắc Kinh không thấy có vấn đề lớn với chiến tranh vì họ đã sẵn sàng chấp nhận nguy cơ để được Hà Nội ủng hộ trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Nhưng nó có thể làm Liên Xô giận dữ vì kể từ sau khủng hoảng tên lửa Cuba 1962, Liên Xô đã muốn cải thiện quan hệ với Mỹ.

Cuộc tranh luận lúc này trở nên nóng bỏng vì nhiều người trong đảng, trong đó có Hồ Chí Minh, vẫn miễn cưỡng không muốn gây hiềm khích với Moscow hoặc khiêu khích Washington. Nhưng ông Lê Duẩn và đồng minh đã chiếm ưu thế và cuối cùng, đề xuất được thông qua.

Để làm dịu những người còn nghi ngờ, đảng quyết định là sẽ không đưa quân chính quy miền Bắc vào Nam. Đảng cũng gửi thư cho một số nước đồng minh hứa rằng cuộc chiến sẽ chỉ khoanh vùng trong ranh giới miền Nam.

Tuy nhiên, Hà Nội lúc này đã đánh giá sai khi họ nghĩ rằng trước xung đột tăng lên ở miền Nam, Mỹ sẽ giảm bớt sự có mặt. Chính phủ Johnson thông qua các biện pháp đe dọa tăng cường vai trò của Mỹ trong cuộc xung đột. Tháng Tám 1964 sau khi xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ, Nhà Trắng nhanh chóng ra lệnh không kích trả đũa vào miền Bắc.

Vài tuần sau đó, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch đưa những đơn vị bộ đội miền Bắc đầu tiên vào Nam. Quyết định này càng làm mất lòng Moscow, nhưng được Bắc Kinh đồng ý. Dù vậy, Trung Quốc cũng không muốn bị đưa vào thế đối đầu với Washington và Mao Trạch Đông cảnh báo Hà Nội không được phản ứng quá mức với Mỹ.

Tháng Mười 1964, Nikita Khrushchev bị phế truất và một bộ máy lãnh đạo mới lên thay, do Leonid Brezhnev đứng đầu. Mặc dù diễn biến này không có bao nhiêu tác động đến quan hệ Xô – Trung, nhưng nó có tác động quan trọng tại Hà Nội. Lý do là các lãnh đạo mới ở Moscow hy vọng sẽ cô lập Trung Quốc trong phe cộng sản, và trở nên dễ chịu hơn trước lời kêu gọi giúp đỡ của miền Bắc. Từ đó trở đi, Liên Xô trở thành nguồn cung cấp thiết bị quân sự cho Hà Nội.

Nhưng không dễ để duy trì quan hệ với cả Liên Xô và Trung Quốc. Bắc Kinh rất bất mãn vì Hà Nội nhận viện trợ tăng cường từ Liên Xô. Khi Đặng Tiểu Bình đi thăm Hà Nội tháng 12 năm đó, ông yêu cầu miền Bắc từ nay phải từ chối giúp đỡ của Moscow và dựa vào Bắc Kinh. Các vị chủ nhà từ chối và Trung Quốc, lo ngại VN sẽ ngả theo Moscow, đành nhượng bộ. Cuối cùng thì Hà Nội đã học được cách sử dụng sự chia rẽ theo hướng có lợi cho mình. Nhưng mầm mống của những rạn nứt về sau với Bắc Kinh đã được gieo từ đây.

Về tác giả: William Duiker nguyên là nhân viên ngoại giao tại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong thời gian chiến tranh. Nhận bằng tiến sĩ ở ĐH Georgetown University, trong nhiều năm cho tới khi về hưu năm 1997, ông là giáo sư khoa Lịch sử ở ĐH bang Pennsylvania.

Ông là tác giả của nhiều tập sách về Việt Nam như The Communist Road to Power in Vietnam (1981), Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam (1994), Vietnam: Revolution in Transition (1995) và Hồ Chí Minh: A Life (2000).

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân