Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
12 Tháng 4 2005 - Cập nhật 18h00 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Phần hai: Khía cạnh ngoại giao trong chiến tranh VN
 
Tuần này, xin tiếp tục giới thiệu phần hai trong bài viết của tác giả William Duiker nói về khía cạnh ngoại giao trong chiến tranh ở Việt Nam.

Bản tiếng Việt là phần trích từ tiểu luận mang tiêu đề “Victory by Other Means: The Foreign Policy of the Democratic Republic of Vietnam”, in trong tập Why the North Won the Vietnam War (Marc Jason Gilbert chủ biên, NXB Palgrave Macmillan ấn hành năm 2002).

Giờ đây khi hai đồng minh chủ chốt đã cam kết ủng hộ với điều kiện chiến tranh không được lan ra biên giới miền Nam, Hà Nội có được một số lợi thế để giải quyết tình hình đang biến chuyển ở miền Nam.

Mùa đông 1964-1965, tình hình chính trị ở Sài Gòn đã đến điểm hỗn độn khi các chính thể liên tiếp thay đổi. Ở nông thôn, lực lượng Việt Cộng tận dụng sự lộn xộn và thực thi chiến thuật chủ động hơn.

Theo đánh giá của tình báo Mỹ lúc này, Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam kiểm soát 80% tổng số đất đai ở miền Nam.

Dấu hiệu tiến triển này đưa đến một khoảnh khắc vui mừng ở Hà Nội rằng chiến thắng đã trước mặt. Tại cuộc họp tháng Hai 1965, các lãnh đạo đảng quyết định không gửi thêm quân từ miền Bắc vào nữa. Họ hy vọng lực lượng Việt Cộng trong Nam đủ sức lật đổ chế độ Sài Gòn vào giữa mùa hè.

Với tư tưởng ấy, Hà Nội quay lại nỗ lực ngoại giao trong tháng Tư, khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra tuyên bố ‘Bốn điểm’ nổi tiếng. Tuyên bố kêu gọi một thỏa hiệp dựa trên việc Mỹ rút quân, việc quay lại các điều khoản hiệp định Geneva, một thỏa thuận hòa bình dựa trên nghị trình của Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam, và việc thống nhất hai miền trong hòa bình không có nước ngoài can thiệp.

Nhưng đề xuất này nhanh chóng gây ra tranh cãi, do Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam gần như ngay lập tức đưa ra tuyên bố ‘Năm điểm’. Nó có vẻ đòi Mỹ rút quân trước khi có thể có hòa đàm.

Các viên chức Mỹ cũng lo ngại rằng điểm số Ba trong Bốn điểm của Hà Nội có thể đòi hỏi việc đầu hàng hoàn toàn của chính thể ở Sài Gòn.

Washington tìm cách giải thích thông qua đường ngoại giao, nhưng Hà Nội không tỏ ra mặn mà. Và sau vài cuộc gặp trong mùa hè, Hà Nội đột ngột chấm dứt liên lạc.

Theo sử gia Robert Brigham, Hà Nội rút khỏi đàm phán chủ yếu vì họ cân nhắc quan điểm của người trong Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam, những người lo ngại rằng mình sẽ bị Hà Nội bỏ rơi.

Nhưng còn một yếu tố khác nữa, đó là kết luận của tổng bí thư Lê Duẩn rằng Washington lúc này chưa sẵn sàng có nhượng bộ lớn tại bàn đàm phán. Như ông viết trong Thư vào Nam, thì Hà Nội không muốn đàm phán cho đến khi những người cách mạng chiếm ưu thế rõ rệt trên chiến trường.

Tuy nhiên, đến cuối mùa hè 1965, rõ ràng lực lượng Việt Cộng chưa đủ sức lật đổ chế độ miền Nam. Sự tăng cường quân Mỹ tại miền Nam buộc Hà Nội nhận thức rằng họ phải tăng cường quân từ miền Bắc vào.

Người ủng hộ mạnh mẽ cho quan điểm này là tướng Nguyễn Chí Thanh, người đưa ra chiến lược tấn công gây sức ép cho quân Mỹ và quân miền Nam trên toàn miền Nam để buộc đối phương đầu hàng.

Hà Nội cũng không cắt đứt hoàn toàn ngả thương thuyết, nhưng ông Lê Duẩn và các đồng minh trong đảng quyết định hiện chưa đúng lúc cho đàm phán.

Việc tăng tốc chiến tranh khiến Hà Nội càng cần phải có sự trợ giúp từ các đồng minh. Moscow có thể hài lòng chừng nào Hà Nội ngăn không để chiến tranh lan ra khỏi biên giới miền Nam. Nhưng các viên chức Liên Xô bày tỏ bất mãn là lãnh đạo Việt Nam không tham vấn với họ về kế hoạch chiến tranh.

Như thường lệ, quan hệ với Bắc Kinh tỏ ra phức tạp hơn. Hà Nội muốn Trung Quốc không chỉ là người giúp đỡ quân sự mà còn là vật cản đường khiến Mỹ ngại không mở rộng chiến tranh ra khỏi biên giới miền Nam.

Trong những tháng đầu năm 1965, Bắc Kinh hứa với Hà Nội rằng Trung Quốc sẽ là ‘hậu phương lớn’ của cách mạng VN, cung cấp trợ giúp quân sự và nếu cần, đưa cả quân Trung Quốc vào để giúp các đồng chí VN đạt mục tiêu. Trong tháng Tư, hai nước ký thỏa thuận cho phép triển khai quân TQ vào miền Bắc. Hai tháng sau đó, các cuộc thảo luận song phương ở Bắc Kinh đồng ý rằng Trung Quốc sẽ phản ứng trước bất kì nỗ lực tăng tốc chiến tranh của Mỹ.

Tuy nhiên, trên thực tế, một số lãnh đạo TQ ngày càng lo ngại họ có thể bị kéo vào thế đối đầu trực tiếp với Mỹ. Bắc Kinh bắt đầu tỏ dấu hiệu với Washington rằng, mặc dù họ sẵn sàng can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, nhưng cũng không có ý định khiêu khích xung đột với Mỹ. Thông điệp ngụ ý nếu Washington không trực tiếp đe dọa Trung Quốc, TQ sẽ không trực tiếp can dự vào cuộc chiến.

Sau một cuộc thảo luận căng thẳng trong mùa hè tại Bắc Kinh, Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Hà Nội về việc gửi phi công chiến đấu TQ và cự tuyệt đề nghị của Liên Xô thành lập mặt trận thống nhất trợ giúp cho miền Bắc.

Nhưng mặc dù các lãnh đạo TQ thận trọng trong việc xác định mức độ can dự, thì khả năng TQ có thể can thiệp đã là yếu tố quan trọng khiến chính quyền Johnson không có giải pháp cứng rắn hơn trong chiến tranh. Ngoài ra, trong các năm kế tiếp, sự trợ giúp quân sự của Trung Quốc đã tăng mạnh, trong khi số lượng nhân viên quân sự và dân sự Trung Quốc phục vụ tại miền Bắc tăng trên 100.000 người.

Nhưng điều này cũng không giải quyết được các khác biệt giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Tình huống trở nên căng thẳng trong cuối thập niên 1960 khi các chiến sĩ Hồng vệ binh đến thăm Hà Nội bắt đầu khoe các khẩu hiệu cách mạng trước mặt các vị chủ nhà. Các lãnh đạo ở Hà Nội có cách bày tỏ sự không hài lòng của họ, với các bài báo xuất hiện nói về truyền thống ‘xâm lược thời phong kiến’ của Trung Quốc. Tín hiệu này nhanh chóng được Bắc Kinh để ý. Đặng Tiểu Bình nói với Lê Duẩn vào tháng Tư 1966 rằng “nếu sự có mặt của chúng tôi khiến các bạn tức giận, chúng tôi sẽ rút lui ngay tức thời.”

Chiến trường

Trong lúc đó trên chiến trường, Hà Nội lo ngại về các tổn thất nhân mạng và vật chất, trong lúc chưa thấy các lợi ích rõ ràng. Đến đầu năm 1967, đã có sự không hài lòng xuất hiện trong một bộ phận quân nhân và viên chức tại Hà Nội. Một số thậm chí bày tỏ hy vọng theo đuổi con đường đàm phán. Lúc này phong trào phản chiến tại Mỹ và trên thế giới lan rộng, và Hà Nội có một ít lạc quan rằng chính quyền Johnson có thể có nhượng bộ lớn để chấm dứt chiến tranh.

Tháng Giêng 1967, ngoại trưởng Bắc Việt, Nguyễn Duy Trinh, ra dấu hiệu với Washington rằng nếu chiến dịch đánh bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt vô điều kiện, viễn cảnh đàm phán sẽ mở ra. Hà Nội lúc này đã từ bỏ đòi hỏi là Mỹ phải chấp nhật cả Bốn điểm trước khi mở đàm phán. Tuy nhiên, Washington thấy thông điệp của Hà Nội vẫn mơ hồ và cuối cùng họ bác bỏ, xem đó là chưa đầy đủ.

Dù vậy, chính quyền Johnson chưa mất hết sự quan tâm đến đàm phán. Vào tháng Sáu, lại có thêm các tiếp xúc; lúc này Nhà Trắng có đề xuất mới, mà thường được biết với tên gọi công thứ Pennsylvania hay công thức San Antonio. Đề nghị nói sẽ tạm ngưng đánh bom miền Bắc nếu hòa đàm bắt đầu và rằng miền Bắc phải bảo đảm sẽ không lợi dụng tình thế để gia tăng nỗ lực quân sự ở miền Nam.

Tại Hà Nội, một số tỏ ý quan tâm đề nghị. Nhưng vì lúc này đã có kế hoạch tổng tấn công ở miền Nam vào đầu năm sau, nên cuối cùng Hà Nội bác bỏ đề nghị. Các nhà chủ chiến hy vọng rằng một cuộc tấn công lớn sẽ làm tình hình miền Nam thêm bất ổn và buộc Mỹ phải nhượng bộ.

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân diễn ra vào cuối tháng Giêng 1968. Các sử gia đã tranh luận nhiều về mục tiêu của chiến dịch này. Nhưng các nguồn từ miền Bắc cho thấy rõ là bản thân Hà Nội không chắc chắn về kết quả sẽ đạt được. Điều này phản ánh quan điểm của ông Lê Duẩn, trích dẫn lại từ Lênin, rằng “chúng ta phải đánh và rồi sẽ chờ xem”.

Mục tiêu cao nhất của Hà Nội là kết hợp tấn công vũ trang và nổi dậy để lật đổ chế độ Sài Gòn, đưa đến đàm phán và Mỹ rút quân. Nhưng mục tiêu tối thiểu của họ là gây bất ổn tại miền Nam đủ để Mỹ phải tìm đường đàm phán theo các điều kiện bất lợi.

Kết cục là trận Mậu Thân đem lại kết quả lẫn lộn. Lực lượng Việt Cộng chịu tổn thất nặng nề và không lật đổ được chế độ Sài Gòn.

Nhưng chiến dịch đã có tác động lớn đến dư luận tại Mỹ vốn trước đó ủng hộ chiến tranh, và thuyết phục được nhiều viên chức Mỹ rằng họ không thể giành chiến thắng với một cái giá chấp nhận được. Nhà Trắng sau đó miễn cưỡng quyết định gia tăng nỗ lực để có đàm phán hòa bình.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân