Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
03 Tháng 8 2005 - Cập nhật 17h39 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
'Trích dẫn thiếu và suy luận vô căn cứ'
 

 
 
Tác giả Khi Đồng Minh Tháo Chạy trong một lần gặp gỡ với Henry Kissinger
Chương Một là chương lý thú vì tác giả viết về một nhân vật mà ít độc giả Việt Nam quen tên: bà goá phụ Anna Chan Chennault-người liên lạc sau lưng giữa ứng cử viên Nixon và tổng thống Thiệu bắt đầu từ tháng 6-1968.

Ðộc giả Việt không quen thuộc với tên Anna Chennault vì tám năm sau khi vụ liên lạc bí mật giữa bà Chennault, Nixon, đại sứ Bùi Diễm và tổng thống Thiệu, thì sự vụ mới lộ ra trên báo chí (năm 1969, ký giả lão thành Theodore H. White, trong The Making of the President 1968, có nhắc đến vai trò của Chennault và ông Thiệu trong kết quả bầu cử, tuy nhiên cho đến lúc đó, trừ các cơ quan tình báo như FBI; CIA; và National Securty Agency là có bằng chứng chắc chắn, tất cả chỉ là tin đồn lúc đương thời).

Năm 1976 tác giả David Wise, trong The American Police State, có nhắc sơ qua vụ này; đến năm 1979, Thomas Powers, trong một tác phẩm viết về cuộc đời của xếp CIA Richard Helms, The Man Who Kept the Secrets: Richard Helms and the CIA, viết nhiều chi tiết hơn về liên hệ giữa bà Chennault và ông Thiệu.

Nhưng độc giả Mỹ phải chờ đến năm 1980 khi chính bà Chennault cho xuất bản cuốn hồi ký The Education of Anna thì phần lớn sự thật mới được phơi bày từ chính người trong cuộc.

Về phía thư liệu Việt ngữ, theo sự hiểu biết của người điểm sách, chỉ có hai tác phẩm nói đến bà Chennault: Nguyễn Tiến Hưng, năm 1986, trong The Palace File (mà trong đó ông Hưng trích theo The Price of Power (1983) của Seymour Hersh); và năm sau, 1987, cựu đại sứ Bùi Diễm nói rõ hơn trong hồi ký In the Jaws of History.

Năm 1998, sau khi tất cả đã chìm vào quên lãng, một nhân vật có liên hệ sâu đậm đến VNCH và những bí mật của vụ Chennault, cựu thứ trưởng Vụ Viễn Ðông William Bundy (và là một nhân viên CIA cao cấp trước đó) cho xuất bản quyển A Tangled Web: The Making of Foreign Policy in the Nixon Presidency.

Trong tác phẩm, Bundy xác định lại nhiều chi tiết đã viết trong In the Jaws of History của Bùi Diễm. Bundy, với cương vị thứ trưởng Vụ Viễn Ðông đương thời, chắc chắn đã đọc những báo cáo mật về những liên lạc giữa ông Thiệu, Bùi Diễm, Nixon, Nguyễn Văn Kiểu (anh tổng thống Thiệu, đại sứ VNCH ở Ðài Loan), Chennault và những người đại diện Nixon.

 Một số hồ sơ giải mật sau này cho chúng ta biết không những tình báo Mỹ biết được nội dung những liên lạc giữa những người nói trên ở nội địa Mỹ, họ còn biết luôn những đối thoại giữa ông Kiểu và ông Thiệu xảy ra trong dinh Ðộc Lập
 

Một số hồ sơ giải mật sau này cho chúng ta biết không những tình báo Mỹ biết được nội dung những liên lạc giữa những người nói trên ở nội địa Mỹ, họ còn biết luôn những đối thoại giữa ông Kiểu và ông Thiệu xảy ra trong dinh Ðộc Lập (đọc, Foreign Relations of the United States, Vol. VII, Vietnam: September 1968-January 1969, tiết mục về Anna Chennault và Thomas Karamessines. Karamessines là phó giám đốc CIA lo về điệp vụ mật).

Vụ Chennault vis-a-vis bầu cử tổng thống Mỹ 1968 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử chiến tranh Việt Nam cũng như lịch sử bầu cử tổng thống Mỹ.

Nhưng vì tính chất tối mật của vấn đề, cả hai tổng thống Nixon và Johnson không hề nhắc đến tên bà Chennault trong hồi ký, dù trong năm bầu cử đó bà Chennault đã quyên được 250 ngàn mỹ kim cho Nixon, một món tiền rất lớn vào năm 1968 (đọc Theodore White, sđd, trang 444).

William Bundy, trong tác phẩm nói trên, tuyên bố cuộc bầu cử năm 1968 là cuộc bầu cử tổng thống Mỹ duy nhất mà kết quả có thể đã bị ảnh hưởng bởi một chánh quyền ngoại quốc.

Như độc giả đã thấy, tất cả sử liệu tác giả trích cho chương này lấy lại từ tác phẩm HSMDÐL, và dựa vào những phỏng vấn với bà Chennault.

Tuy nhiên hơn 20 năm đã qua, tất cả những sử liệu đó quá cũ. Những sử liệu mới như của William Bundy, Bộ Ngoại Giao, hồi ký của tổng trưởng quốc phòng Clark Clifford (Counsel to the President: A Memoir) là những sử liệu sáng tỏ hơn mà lẽ ra tác giả phải sử dụng để cập nhật thêm vào KÐMTC.

 Người điểm sách cũng để ý một điều: tác giả KÐMTC quá tin vào những gì bà Chennault nói (qua phỏng vấn) mà không để ý hay đọc những gì bà Chennault viết, hay các tài liệu khác viết về bà Chennault.
 

Người điểm sách cũng để ý một điều: tác giả KÐMTC quá tin vào những gì bà Chennault nói (qua phỏng vấn) mà không để ý hay đọc những gì bà Chennault viết, hay các tài liệu khác viết về bà Chennault.

Một thí dụ: Bà Chennault viết trong hồi ký (và nói với tác giả khi trong phỏng vấn) là bà không nhớ John Mitchell (cố vấn ủy ban bầu cử Nixon) hay chính Nixon muốn bà đưa đại sứ Bùi Diễm đến gặp Nixon ở New York. ... Nhưng qua tác phẩm của William Safire (Before the Fall: An Inside View of the Pre-Watergate White House) chúng ta thấy chính Chennault là người tự viết thư đề nghị cuộc gặp mặt đó (Safire có chụp lại lá thư đề nghị của Chennault trong sách).

Ở trang 32, KÐMTC, tác giả nói sơ về cuộc diện kiến đầu tiên giữa ông Thiệu và phó tổng thống Hubert Humphrey-cuộc diện kiến đã làm cho ông Thiệu có ấn tượng xấu về Humphrey.

Nhưng tác giả không cho người đọc biết ông dựa vào từ tài liệu nào để viết đoạn văn đó.

Nội dung cuộc đối thoại được ghi lại đầy đủ hơn trong hồi ký của Humphrey, The Education of a Public Man, vào năm 1991.

Tổng trưởng Quốc phòng Robert McNamara

Trang 35 và 181 trong KÐMTC tác giả viết về tinh thần của tổng trưởng quốc phòng Robert McNamara.

Tác giả nói dù McNamara nghi ngờ về kết quả cuộc chiến ngay từ lúc ông đem quân vào miền Nam nhưng ông vẫn tiếp tục ... chỉ vì ông muốn làm vừa lòng tổng thống Johnson để hy vọng được bổ nhiệm vào chức chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới!

Nhận định như vậy thì sẽ làm nhiều độc giả am tường sử liệu về McNamara nhức đầu. McNamara không nghĩ gì về Ngân Hàng Thế Giới (NHTG) , hay muốn về làm chủ tịch cho đến mùa Thu năm 1967-một vài tháng trước khi ông từ chức.

Trong hai tác phẩm của tác giả (nói là hai tác phẩm nhưng thật ra chỉ có một về phương diện sử liệu) chúng ta không thấy tác giả đọc hay chú một tác phẩm nào về McNamara, để cho chúng ta thấy kết luận của tác giả có quan sát và nghiên cứu.

 Chỉ mới bốn mươi bốn tuổi đầu, McNamara là vị giám đốc trẻ tuổi nhất và là người đầu tiên làm giám đốc hãng Ford mà không thuộc giòng họ Ford
 

Không phải sử liệu không có sách về McNamara. Khi HSMDÐL ra đời năm 1986, hai tác phẩm khá đầy đủ về McNamara (Henry L. Trewhit, McNamara: His Ordeal at the Pentagon, 1971; và David Halberstam, The Best and the Brightest, 1972).

Trong 19 năm giữa hai tác phẩm của tác giả, sử liệu có thêm hai tác phẩm khác: Deborah Shapley, Promise and Power: The Life and Times of Robert R. McNamara; và hồi ký của McNamara, In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam.

Hai tác phẩm đó cho ta khá đầy đủ về tinh thần của McNamara trong cuộc chiến. Một hồi ký khác, Counsel to the President của tổng trưởng quốc phòng Clark Clifford (người thay McNamara) cũng có cái nhìn rất sâu về tâm trạng của McNamara vào mùa Thu năm 1967, khi McNamara lần đầu tiên đề nghị Johnson đi tìm một giải pháp thương lượng chính trị hơn là tiếp tục kế hoạch quân sự.

Về chuyện tác giả nói McNamara biết mình sai trong cuộc chiến nhưng vẫn tiếp tục chỉ vì muốn làm vừa lòng Johnson, để hy vọng được bổ nhiệm vào NHTG: Tác giả chú tài liệu đến từ Harry G. Summer, đăng trong tuyển tập Vietnam: A Reader, một tuyển tập in lại những bài viết đã đăng trên nguyệt san Vietnam.

Ðại tá Summer, Jr., là tác giả của hai tác phẩm bán rất chạy là On Strategy và The Vietnam War Almanac. Nhưng không tác giả nào lại trích theo Summer, phê bình tâm trạng (trong một đoạn văn vài mươi chữ và không có chú thích) của McNamara trong một bài viết chưa đầy mười trang đăng trên một nguyệt san quân sự.

Nhất là về biến cố tâm lý quan trọng của một người được nhắc đến nhiều nhất trong thập niên 1960. McNamara biết về NHTG một cách bất ngờ: George Woods, đương kim chủ tịch NHTG, bất thình lình đến ăn trưa với McNamara, và nói ông rất thích bài diễn văn của McNamara đọc ở Montreal về an ninh và phát triển kinh tế thế giới. ... Ông đề nghị McNamara vào làm chủ tịch khi ông từ chức vào cuối năm 1968.

Với nhiều lo âu về những tiến triển bi quan trong cuộc chiến ở Việt Nam; với những buồn phiền về cái chết của người bạn thân (John McNaughton, hàng thứ ba ở bộ quốc phòng; bạn thân từ Harvard, chết vì tai nạn máy bay), McNamara bàn với vợ suốt đêm về chuyện NHTG. Vào giữa tháng 10-1968, khi thổ lộ với Johnson ông muốn từ chức, Johnson hỏi ông muốn tiếp tục phục vụ ở bất cứ một cơ quan nào không ...

McNamara trả lời chỉ có NHTG là nơi ông muốn phục vụ, nếu ông còn phục vụ chính phủ.

Và Johnson bổ nhiệm McNamara vào chức chủ tịch The World Bank một cách bất ngờ đến độ McNamara chỉ biết khi đọc tin trên báo (đọc Shapley, sách đã dẫn, trang 416-427; Hồi ký của tổng thống Johnson, The Advantage Point: Perspectives of the Presidency, 1963-1969, trang 20, cũng nói tương tự như vậy).

'Johnson bổ nhiệm McNamara vào chức chủ tịch The World Bank một cách bất ngờ đến độ McNamara chỉ biết khi đọc tin trên báo'

Chúng ta đều biết, trước khi nhận lời (vì nể) Kennedy về làm tổng trưởng quốc phòng, McNamara đang là chủ tịch hãng xe Ford với lương tháng 410 ngàn mỹ kim một năm (năm1960).

Chỉ mới bốn mươi bốn tuổi đầu, McNamara là vị giám đốc trẻ tuổi nhất và là người đầu tiên làm giám đốc hãng Ford mà không thuộc giòng họ Ford! Khi mời McNamara về tham gia nội các, Kennedy đã cho ông hai chọn lựa: tổng trưởng tài chánh hay quốc phòng. Trong khi đó, Ngân Hàng Thế Giới của năm 1968 chỉ là một cơ quan quốc tế nhỏ, tiền cho vay hàng năm chưa đến một tỉ; có khoảng 1.600 nhân viên; không có thế lực chính trị vì Nga và Trung Cộng vẫn chưa là hội viên.

Ai muốn làm chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới nếu có chọn lựa làm tổng trưởng Tài Chánh hoặc Quốc Phòng? Trong phần lịch sử NHTG do chính cơ quan này viết, những tác giả cũng nói sự bổ nhiệm của McNamara là ngoài dự tính của đương sự. H.R. McMaster, trong một tác phẩm gần như kết án McNamara, Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs of Staff and the Lie That Led to Vietnam, cũng không kết án McNamara như vậy.

Khi tác giả Nguyễn Tiến Hưng viết McNamara gia tăng đem quân vào việt Nam; mù quáng gia tăng cuộc chiến chỉ để làm vừa lòng tổng thống, hầu hy vọng được bổ nhiệm làm giám đốc Ngân Hàng Thế Giới, thì chỉ là một suy luận vô căn cứ cho MacNamara. Robert Strange McNamara không bao giờ có ý định đó.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân