Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
03 Tháng 8 2005 - Cập nhật 16h23 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Cái 'không chính xác' của Khi Đồng Minh Tháo Chạy
 

 
 
Các cô gái Việt Nam diễu hành trong đợt kỷ niệm 30-04-1975
Khi Đồng Minh Tháo Chạy được cho ra mắt vào đúng dịp kỷ niệm 30 năm cuộc chiến Việt Nam
Ở phần trên, chúng ta so sánh những sử liệu tác giả dùng; sự chính xác khi dùng; và phương pháp sử dụng sử liệu của tác giả. Phần này, chúng ta nói đến lối viết của tác giả và một số sơ sót nhỏ vì lỗi của ấn công, hay sự bất cẩn của tác giả, hay cả hai.

Văn phong trong KÐMTC lủng củng vì có rất nhiều đoạn tác giả dịch từ tác phẩm khác... rồi thay đổi, rồi thêm vào ý của tác giả ... và sự tiếp tục đó không làm cho văn phong tác giả liên tục. Ðôi khi tác giả dịch sai-hay cố ý dịch sai và không chú thích-và làm độc giả mất tin tưởng với tác giả.

Một vài chi tiết người điểm sách thấy:

Trang 174-175 KÐMTC, tác giả nói về những kế hoạch tiết giảm năng lượng tiêu thụ để đối phó với cuộc khủng hoảng năng lương năm 1973.

 Văn phong trong KÐMTC lủng củng vì có rất nhiều đoạn tác giả dịch từ tác phẩm khác... rồi thay đổi, rồi thêm vào ý của tác giả ... và sự tiếp tục đó không làm cho văn phong tác giả liên tục.
 

Trong hồi ký (Nixon, sđd, trang 984-985), tổng thống Nixon viết rõ là ông đề nghị giảm tốc độ xe di chuyển xuống 50 miles/hour để tiếtkiệm xăng. Nhưng khi đề nghị đưa ra quốc hội, quốc hội chỉ hạ xuống 55 miles/hour. Trong sách, không hiểu sao tác giả lại nói Nixon đề nghị 55 miles/hour, dù câu văn nguyên tác đã rõ ràng.

Trang 193 và trang 474, tác giả phàn nàn về hoàn cảnh đã đưa Gerald Ford lên làm tổng thống.

Tác giả viết, ''Phó tổng thống Ford lên kế vị. Thế là từ một dân biểu ở Hạ Nghị Viện, vừa mới được Nixon đưa lên làm Phó Tổng Thống thay ông Spiro Agnew (phải từ chức vì bị tố cáo tham nhũng) vài tháng trước, bây giờ nhảy ngay lên ghế tổng thống, không có bầu bán gì cả.''

Ông Gerald Ford trở thành 'tổng thống bất đắc dĩ' sau khi ông Nixon từ chức và cũng là một trong những người ở Nhà Trắng ngắn nhất

Viết như vậy thì quên đi nguyên tắc thay phó tổng thống viết trong hiến pháp Hoa Kỳ. Phụ Hiến thứ 25 của hiến pháp cho quyền tổng thống đề cử người thay vào chổ trống chức phó tổng thống, với sự đồng ý của lưỡng viện quốc hội. Quốc hội Hoa Kỳ, tháng 11 năm 1973 ưng thuận cho Ford làm phó tổng thống với số phiếu thuận 93-3 ở thượng viện, và 387-35 ở hạ viện.

Và Ford cũng không phải là một dân biểu tầm thường như tác giả viết: đã làm dân biểu 25 năm, Ford là chủ tịch khối thiểu số (Cộng Hòa) ở hạ viện từ 1965 đến 1973. Chủ tịch một đảng trong quốc hội thường là nhân vật quan trọng hàng thứ nhì, hay thứ ba của đảng. Ford là một ứng cử viên có uy tín nhất mà Nixon có thể tìm được trong thời gian đó. Còn chuyện Ford thay Nixon khi Nixon từ chức: đó cũng cũng là một quy tắc trong Hiến Pháp Hoa Kỳ mà thôi.

Trang 347, đoạn viết về tiểu sử của đại sứ Martin được tác giả trích theo Frank Snepp (Snepp, sđd, trang 67), nhưng trong đoạn văn nguyên thủy, Snepp không viết gì về chuyện mỗi lần ông Martin uống rượu ông đều thú thật với cha ông.

Tác giả không nhất thiết phải thêm vào đoạn này mà không có chứng cớ. Cùng trang, tác giả viết (khi còn ở Saigon) mỗi lần gặp đại sứ Martin ông thường trao đổi với ông đại sứ về những trận đấu bóng giữa đại học Wake Forest College, nơi Martin theo học, và trường University of Virginia của tác giả.

Chuyện này thì có thể bàn cãi được: Wake Forest College-bây giờ là Wake Forest Univirsity-trước khi dọn về Winston-Salem, North Carolina, là một trường đại học nhỏ ở ngoại ô của thành phố Durham, North Carolina. Năm 1965, trường dọn về Winston-Salem và đổi tên trở thành một đại học chính thức. Wake Forest College nơi Martin ra trường năm 1932 và University of Virginia nơi tác giả xuất thân năm 1963 không có liên hệ gì với nhau về phương diện thể thao-ít ra là trong thời khoảng đó.

Và nói về sự chính xác: ở trang kế tiếp, 349, tác giả viết, ''Khi Martin nhậm chức vào hè 1973, tình hình bang giao Việt-Mỹ rất căng thẳng. Ông Kissinger lại mới kiêm chức Ngoại Trưởng.''

Martin tuyên thệ nhiệm chức đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam vào 24 tháng 6, 1973; Kissinger nhận chức tổng trưởng ngoại giao 22 tháng 8, 1973.
Trang 405 tác giả tả đêm đại sứ Martin lên phi cơ rời Việt Nam.

Ðoạn văn này đến từ sách của David Butler (Butler, sđd, trang 462-464) nhưng tác giả lại chú đến từ cuộc phỏng vấn với thiếu tướng John Murray.

 Landau chỉ là một anh học trò cử nhân ở đại học Harvard, viết một tiểu luận về Kissinger, chứ không phải là một nhà nghiên cứu chiến lược như tác giả nói.
 

Và nói về sự chính xác: ở trang kế tiếp, 349, tác giả viết, ''Khi Martin nhậm chức vào hè 1973, tình hình bang giao Việt-Mỹ rất căng thẳng. Ông Kissinger lại mới kiêm chức Ngoại Trưởng.''

Martin tuyên thệ nhiệm chức đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam vào 24 tháng 6, 1973; Kissinger nhận chức tổng trưởng ngoại giao 22 tháng 8, 1973.
Trang 405 tác giả tả đêm đại sứ Martin lên phi cơ rời Việt Nam.

Ðoạn văn này đến từ sách của David Butler (Butler, sđd, trang 462-464) nhưng tác giả lại chú đến từ cuộc phỏng vấn với thiếu tướng John Murray.

Ðoạn văn của Butler có tả một thiếu tá TQLC Mỹ to lớn vạm vỡ; đoạn văn của tác giả tả anh chàng phi công to lớn vạm vỡ. Butler tả một chiếc C-130 bay cao trên trời, đánh ra một diện tín chung cho tất cả trực thăng đang di tản, và những cơ quan nào còn nhận được điện tín viễn liên: Chỉ còn 21 phi vụ di tản nữa là chấm dứt.

Lệnh của tổng thống Hoa Kỳ là bất cứ phi cơ trực thăng nào liên lạc được với đại sứ Martin, thì thông báo với ông ta phải di tản ngay trên chuyến bay đó theo lệnh của tổng thống.

Trong KÐMTC tác giả viết anh chàng phi công to con, bước xuống phi cơ, trao cho đại sứ Martin một tờ giấy ... nói đây là chuyến bay cuối cùng ... và Martin bơ phờ ôm lá cờ Hoa Kỳ trên tay leo lên phi cơ. Ðoạn văn tác giả trích theo không viết như vậy. Một chi tiết khác, rất kỹ thuật, nhưng tác giả quên. Trang 359, tác giả viết, ''Vào lúc bốn giờ năm phút sáng thứ Ba, ngày 29 tháng Tư (4:05 chiều 28/4 giờ Washington).''

Ðúng ra là 5:05 chiều ngày 28 tháng 4 tại Washington. Tháng 4 là tháng đổi giờ ở Mỹ. Ngày đổi giờ là hai giờ sáng ngày Chủ Nhật cuối cùng của tháng Tư. Ngày 27 tháng 4 là ngày Chủ Nhật cuối của tháng. Từ ngày thứ Hai, 28 tháng 4, giờ Saigon và Washington chỉ cách nhau 11 tiếng thay gì 12 (tháng 4 dến tháng 10 cách nhau 11 tiếng; tháng 11 đến tháng 4 cách nhau 12 tiếng).

Những người miền Nam đã mang cờ vàng sang Hoa Kỳ theo sau kết thúc cuộc chiến

Một vài chi tiết bất cẩn khác: Trang 100, 101, và 105, ba chú thích này lộn nhau: chú thích 20 là chú thích đúng cho chú thích 19 của trang 100; chú thích 20 của trang 101 là chú thích 20 của trang 105 (chú thích 19 trích theo The Pentagon Papers. Nội dung The Pentagon Papers chấm dứt vào cuối năm 1967.

Nixon chưa xuất hiện (liên hệ về chiến tranh Việt Nam) cho đến hết năm đó. Trang 325-326 KÐMTC cho ghi chú số 5, là trang 436 trong sách của David Landau. Ðộc giả sẽ không bao giờ tìm được ghi chú này, vì quyển The Uses of Powers của Landau chỉ có 270 trang! Thật ra, trang mà tác giả nói, nằm trong trang 180 của Landau. Landau chỉ là một anh học trò cử nhân ở đại học Harvard, viết một tiểu luận về Kissinger, chứ không phải là một nhà nghiên cứu chiến lược như tác giả nói. Trang giới thiệu về sách của Landau đã đề như vậy.

Tương tự, trang 381 và 386, chú thích 15 và 25, tác giả chú trang 586 trong bản tường trình của đại sứ Martin. Chỉ tiết là tài liệu của Martin trong phụ chú tác giả đính kèm chỉ có đến 585 trang! Trang 217, ngày tháng đúng là, 7 tháng 8, 1974; trang 136, ngày tháng đúng là tháng 3, 1972 (tháng 3-1975 làm gì còn một bộ tư lệnh quân sự Hoa Kỳ nào ở Ðà Nẵng).

Trang 334, Kissinger nói chuyện với Hiệp Hội Nhật Bản ngày 18 tháng 6, chứ không phải 16 tháng 8 như tác giả viết (đọc lại câu văn tác giả, và đọc, Guenter Lewy, America in Vietnam, trang 517, phụ chú 54). Trang 290, ngày đúng là 9 tháng 8-1974.

Trang 114 viết phó tổng thống Spiro Agnew sang thăm Saigon ngày 30 tháng 3, 1973. Ngày đúng là 30 tháng 1, 1973. Trang 469, tác giả viết về kết quả bỏ phiếu Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt ở quốc hội Mỹ: ''Và việc chấp thuận [Nghị Quyết Vịnh Bắc Bộ] lại đồng nhất: số phiếu ở Hạ Viện là 466-0; và Thượng Viện 88-2.'' Năm 1964 làm sao tìm đâu ra 466 dân biểu ở Hạ Viện Mỹ? Con số đúng là 416-0; và 88-2.

Henry Kissinger được trao giải Nobel hòa bình năm 1973 cùng ông Lê Đức Thọ

Trang 369, ''... ngày 8 tháng 3, 1965. Hai sư đoàn TQLC Hoa Kỳ đổ bộ lên Ðà Nẵng.'' Đúng hơn, chỉ có hai tiểu đoàn đổ bộ (Battalion Landing Team) ngày hôm đó, với số quân khoảng 3.500 người. Battalion Landing Team là loại tiểu đoàn đổ bộ, tự chiến đấu nên rất đông quân và trang bị đầy đủ. (đọc, The U.S. Marines in Vietnam: The Landing and the Buildup, 1965, trang 9-12).

Trang 162-164, tác giả nói về cuộc chiến Trung Ðông giữa khối Ả Rập và Do Thái vào ngày 6 tháng 10-1973 ... và viết, ''Nixon đang bối rối nhưng đằng sau ông đã có Tổng Trưởng Ngoại Giao Kiêm Cố Vấn An Ninh rất tỉnh táo và vững mạnh. Ông Kissinger này lại vừa được giải thưởng Nobel Hòa Bình.''

Cuộc chiến Yum Kippur mãnh liệt nhưng rất ngắn. Bùng nổ ngày 6 tháng mười và kết thúc 17 tháng 10. Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển thông báo cho Kissinger giải thưởng Nobel vào ngày 16 tháng 10-1973.

Trang 45, khi nói về ngày ông Thiệu đọc diễn văn ở Lưỡng Viện Quốc Hội nhân ngày Quốc Khánh 1968, tác giả viết, ''Sáng thứ Bảy, mồng một tháng 11, một buổi sáng êm ả ở Saigon ...'' Mồng một tháng 11, 1968 là ngày thứ Sáu, chứ không phải thứ Bảy (coi lịch, hoặc đọc KÐMTC trang 47, khi tác giả trích Theodore White, trong đó có đoạn, ''... người ta thấy rằng vụ ngưng ném bom bắt đầu sáng thứ Sáu [1-11-68]).

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân