Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
06 Tháng 4 2005 - Cập nhật 15h26 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Tiếng trống đồng Mê Linh
 

 
 
Ảnh của Viettouch.com
Đền thờ Hai Bà Trưng ở Vĩnh Phú
Tìm hiểu về cổ sử Việt Nam là một đề tài phức tạp, hấp dẫn nhưng cũng gây nhiều tranh cãi.

Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà sưu khảo độc lập Trương Thái Du quanh vấn đề tìm lại manh mối về Hai Bà Trưng.

Nội dung trong bài viết là quan điểm riêng của tác giả. Rất mong nhận được ý kiến tranh luận, phản hồi từ quý vị độc giả trong tinh thần cởi mở, tương kính và lành mạnh.

Lời phi lộ: Bài viết này tiếp tục chuỗi tìm hiểu cổ sử Việt Nam của tác giả và nằm trong hệ thống các hệ quả từ một cách tiếp cận chưa được thảo luận rộng rãi. Về cơ bản cách tiếp cận này như sau:

1. Giao Chỉ nguyên nghĩa là một khái niệm nói về vùng đất phía nam vương quốc của Đường Nghiêu – Ngu Thuấn. Giao Chỉ đầu thời Chu chính là Đan Dương (nay thuộc Hồ Bắc, Trung Quốc). Sau hàng ngàn năm nam tiến của các đoàn quân đế quốc, khái niệm Giao Chỉ cũng dịch chuyển dần về phương nam. Chỉ đến thời Đông Hán, Giao Chỉ mới biến thành địa danh cố định và xác thực trên địa đồ.

2. Nhà nước Văn Lang sơ khai của người Lạc Việt được hình thành tại Động Đình Hồ (Hồ Nam, Trung Quốc) khoảng năm Nhâm Tuất 1199 TCN. Các vua Hùng cuối cùng trong số 18 vua Hùng đã chạy giặc Sở xuống đồng bằng Tây Giang, Quảng Tây, Trung Quốc và dựng lại phiên bản nhà nước sơ khai như Văn Lang Động Đình Hồ là Văn Lang Tây Giang. “Thục Vương tử” tên Phán của nước Thục (Quí Châu – Tây bắc Quảng Tây) đã thôn tính Văn Lang Tây Giang và dựng lên nước Tây Âu Lạc. Không ít cư dân Văn Lang Động Đình Hồ tiếp tục di chuyển xuống đồng bằng sông Hồng trước và sau thời điểm 179 TCN (năm Triệu Đà thôn tính Tây Âu Lạc). Ở mảnh đất Việt Nam cổ, đoàn lưu dân này vẫn tổ chức xã hội theo mô hình Văn Lang Động Đình Hồ, song các nhóm thị tộc mẫu hệ không còn liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành nhà nước sơ khai. Vua Hùng của họ chỉ còn là thủ lãnh tự trị từng khu vực nhỏ, tức là như tù trưởng, tộc trưởng mà thôi.

3. Địa bàn của người Lạc Việt cổ gồm Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam. Người Lạc Việt gọi tổ quốc mình là Đất Nước, khi ký âm bằng Hán tự nó trở thành Âu Lạc. Lạc Việt chính là Nước Việt hay Việt Thường Quốc. Người Lạc Việt ủng hộ Triệu Đà lập nên nước Nam Việt có kinh đô tại Phiên Ngung cũng gọi nơi ấy là Âu Lạc. Từ đây sinh ra từ Tây Âu Lạc tương đương với Tây Âu, nghĩa là vùng đất phía tây Phiên Ngung. Chữ Tây này tồn tại cho đến hôm nay trong trong tên gọi hiện đại của vùng đất này là Quảng Tây. Do đó không tồn tại quốc gia Âu Lạc tại đồng bằng sông Hồng trước công nguyên. Sau năm 179 TCN người Lạc Việt ở Tây Âu Lạc chạy giặc Triệu Đà xuống Bắc Việt đã dung hòa và pha trộn con người cũng như lịch sử với những người anh em cùng cội rễ Lạc Việt Động Đình Hồ. Chính cội rễ ấy đã che hết những mối nối ký ức, những khoảng trống và “mưu mô” của sử sách Trung Quốc, biến cổ sử Việt Nam thành một hệ thống vừa ít tư liệu vừa phức tạp nhưng cực kỳ mâu thuẫn.

Mặc dù còn rất nhiều sai sót, nhầm lẫn và mâu thuẫn trong các bài viết đã phố biến đây đó, tác giả hy vọng cách tiếp cận cốt lõi của mình nên được các nhà sử học chuyên nghiệp tham khảo nghiêm túc. Trong khi vẫn tiếp tục chỉnh lý chiều sâu văn bản cho một tập hợp mới nhằm đi đến xuất bản chính thức, sự mở rộng phạm vi của cách tiếp cận này là cần thiết.

Mùa xuân 2005, tròn 1962 năm ngày Hai Bà Trưng bỏ mình vì nước, xin được viết bài này như nén hương lòng thành kính dâng lên Hai Bà. Mong âm linh liệt mẫu giúp đỡ con cháu Việt Nam của mình làm sống dậy tiếng trống đồng bất khuất của nền văn minh Lạc Việt, để người đời có cái nhìn khác đi với hình ảnh sáo mòn vay mượn “phất cờ khởi nghĩa” của cuộc binh biến mang tên Tự Do mà Trưng Trắc là lãnh tụ, là vị Vua Bà bất tử đầu tiên và cũng là cuối cùng của mảnh đất tiền Việt Nam.

1. Thời Hai Bà Trưng, mẫu hệ hay mẫu quyền?

Rất nhiều sử gia đã đồng tình rằng theo Thủy Kinh Chú, chồng bà Trưng Trắc tên Thi. Ông chẳng những không hề bị Tô Định sát hại, mà còn sát cánh bên phu nhân của mình trong cuộc nổi dậy năm 40. Khi Mã Viện tấn công, đuối sức, ông bà bỏ chạy vào Kim Khê, ba năm sau mới bị bắt. Chuyện tiếp theo như thế nào thì Thủy Kinh Chú bỏ lửng. Chỉ biết dân gian truyền tụng Hai Bà Trưng tuẫn tiết ở Hát giang. Có giả thuyết Hai Bà sau đó bị Mã Viện bắt và chém đầu rồi đem thủ cấp về Tàu báo công, cho nên trong đền thờ Hai Bà ở Hát Môn có tục kiêng màu đỏ. Hậu Hán Thư chép bà Trưng Trắc bị xử trảm. Ở đây tôi muốn trả lời câu hỏi: Tại sao sử gia phong kiến Việt Nam lại mượn tay Tô Định khai tử ông Thi?

Ý kiến phổ thông của đa số học giả trong thế kỷ 20 cho rằng các nhà Nho, khi viết sử phải “giết” ông Thi, vì nếu ông còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ… thánh hiền Khổng – Mạnh! Họ cũng thống nhất cư dân Việt cổ hình như theo chế độ mẫu hệ - bằng chứng là thuộc tướng của Hai Bà Trưng phái nữ rất nhiều, nào là Lê Chân (thánh chân công chúa), Ngọc Lâm (thánh thiên công chúa), Vũ Thục Nương (bát nàn công chúa), Thiều Hoa (đông quân tướng quân), Diệu Tiên v.v. Giải thích như thế chưa thuyết phục lắm. Theo tôi sự bịa đặt còn ẩn chứa hàm ý sâu xa khác, nó làm người ta không chú tâm đến địa điểm của cuộc nổi dậy.

Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tập hợp lực lượng và tuyên chiến với Tô Định tại Mê Linh, với sự ủng hộ mạnh mẽ của mẹ mình là bà Man Thiện. Thành công, Trưng Trắc xưng vương và đóng đô cũng tại Mê Linh, nơi chôn nhau cắt rốn của bà. Giả sử Hai Bà Trưng không có em trai. Khi chồng chết, Trưng Trắc (lúc này đang ở bên chồng) về lại quê cùng giữ quyền thế tập với em gái, rồi “Hận người tham bạo, thù chồng chẳng quên… phất cờ khởi nghĩa”. Chuỗi luận thật tròn trịa, dễ ru ngủ người đời. Thật sự nó đã ru biết bao thế hệ người Việt ngủ ngon hằng ngàn năm.

Quả tình ông Thi chẳng bị ai ám hại. Ông là con Lạc tướng Châu Diên, rất “môn đăng hộ đối” với Trưng Trắc, chứ không phải một anh lực điền tứ cố vô thân được gia chủ nuôi và gửi gắm con gái rượu (theo quan điểm phụ hệ sau này). Không có ông bên cạnh Trưng Trắc đánh đuổi Tô Định, sẽ không ai thắc mắc khi lấy vợ ông đi ở rể hay rước dâu về. Nếu lúc ấy người Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ, Trưng Trắc phải về nhà chồng. Và nếu hưng binh tất bà sẽ chọn Chu Diên chứ không phải Mê Linh. Do đó ta thấy vai trò của kẻ làm dâu trong một gia tộc danh giá thời ấy hơi khác thường.

 Vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất
 
Trương Thái Du

Đến đây nên mạnh dạn kết luận khi phối ngẫu với Trưng Trắc, ông Thi phải theo vợ sang Mê Linh. Vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất, thậm chí Trưng Nhị còn có thể thừa kế cả anh rể mình nữa, điều này hoàn toàn không có gì xa lạ với nhiều bộ tộc còn chậm tiến trên thế giới ở thế kỷ 20 vừa qua. Giả thuyết này có thể lấy chuyện hôn nhân của Mỵ Châu và Trọng Thủy trước đó hơn 200 năm làm một điểm tựa. Hình ảnh truyền thuyết An Dương Vương cưỡi ngựa mang Mỵ Châu bỏ chạy khỏi Cổ Loa, cũng mơ hồ cho thấy Mỵ Châu cần được bảo vệ như một “thái tử” trong cơn nguy cấp. Có thể tham khảo thêm bộ sử “Tam Quốc Chí” của Trần Thọ (năm 233 – 297): “Ở hai huyện Mê Linh của quận Giao Chỉ và Đô Lung của quận Cửu Chân, anh chết thì em trai lấy chị dâu”.

Tôi dám khẳng định chắc nịch rằng thời Hai Bà Trưng, cư dân vùng đồng bằng sông Hồng vẫn còn theo chế độ mẫu hệ nếu không muốn nói là mẫu quyền. Khái niệm mẫu hệ và mẫu quyền có khác nhau nhưng phụ hệ và phụ quyền lại gần như là một. Chế độ mẫu hệ qui định những đứa con trong một gia đình mang họ mẹ, chỉ các con gái mới được giữ quyền thừa kế. Mẫu quyền thì đi xa hơn, quyền hành gia đình và xã hội nằm tất ở nữ giới, lãnh tụ phải là nữ giới. Do đó việc tồn tại các nam thủ lĩnh trong những bộ tộc Việt cổ không hề mâu thuẫn với nội dung mẫu hệ. Nội dung mẫu hệ này xuyên suốt trong hầu hết các văn bản huyền sử Việt Nam, mặc dù nó đã bị chế độ phụ hệ nối tiếp bóp méo, biên tập khá bài bản và công phu.

Rõ nhất phải kể đến truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ với cặp khái niệm “Mẹ - Đất (núi)” và “Cha – Nước”. Trong trật tự lời văn của Lĩnh Nam Chích Quái: “Long Quân nói: Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được". Rõ ràng mẹ Âu Cơ là Dương chứ không phải Âm. Minh chứng thêm ở đây: tết Đoan Dương (ngày nóng nhất trong năm, dương khí cực thịnh) hay còn gọi là Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch cũng là ngày giỗ Âu Cơ. Chế độ phụ hệ dù có bóp méo truyền thuyết theo chiều hướng nào đi nữa vẫn không thể thay ngày giỗ mẹ bằng giỗ cha. Trong câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, cặp “Mẹ - Đất (núi)” và “Cha – Nước” trong truyện Âu Cơ, Lạc Long Quân đã bị chế độ phụ hệ hoán đổi trật tự một cách rất khéo thành “Mẹ - Nước” và “Cha – Núi (đất)”. Bản thân yếu tố “Thái sơn” rặt Tàu cũng cho thấy đâu là nguyên nhân của sự thay đổi ấy. Sẽ có người phản bác lập luận của tôi: xét theo cấu tạo của bộ phận sinh dục, nếu cho rằng mẹ là dương rất không ổn. Một cách tình cờ lưỡng nghi (hào dương và hào âm) của Kinh Dịch có thể tương đương với Linga và Yoni của người Chiêm Thành. Tuy nhiên khi so sánh ngực người nam và người nữ thì rõ ràng giống cái lại chứa dương tính. Vấn đề giờ đây thu hẹp về các góc nhìn mà thôi.

2. Một cách lý giải toàn cảnh

Năm 111 TCN Lộ Bác Đức diệt Nam Việt, kết thúc gần 100 năm vương triều của họ Triệu. Tượng quận, vùng đất chưa bị xâm lăng, một tên gọi tượng trưng mang tính khái niệm theo cách của nhà Tần (nó tương đương với Giao Chỉ của nhà Chu) bắt đầu được Hán Vũ Đế mở mang. Chín quận mới liệt kê ở Hán Thư là Đạm Nhĩ, Chu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam tiếp tục là khái niệm, thứ khái niệm nói lên tính tự cao, tự đại, lòng tham và chủ nghĩa bành trướng của nhà Hán.

Sau hàng trăm năm dừng lại và khai phá các vùng đất phương nam đã chiếm được và đặt quan trấn nhậm (tức 6 quận trong tổng số 9 quận thuộc Giao Chỉ bộ), đầu công nguyên nhà Tây Hán bắt đầu dòm ngó xuống ba quận ảo là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Lần đầu tiên ta thấy xuất hiện chức danh Thái thú của quận Giao Chỉ là Tích Quang (năm 1 đến năm thứ 5 sau Công Nguyên). Người này chắc chắn chỉ là lãnh đạo một sứ bộ có qui mô nhỏ, mang danh nghĩa “thông giao” đến đất mới thăm dò, thám thính và xem xét khả năng áp đặt kềm kẹp đô hộ. Công việc của Tích Quang còn dang dở thì Trung Nguyên hỗn loạn vì Vương Mãng cướp ngôi.

Năm 23 Lưu Tú dẹp được Vương Mãng tiếm quyền nhưng Trường An đổ nát, hoang tàn trong máu lửa, ông dời đô về phía đông đến Lạc Dương lập nên nhà Hậu Hán. Để nối lại cuộc thám sát mảnh đất Việt cổ, năm 25 Nhâm Diên được cử sang Cửu Chân. Những chính sách mị dân mà Tích Quang và Nhâm Diên áp dụng khi ấy không ngờ còn lưu truyền tới tận thế kỷ 20, với vỏ bọc hình thức khá ngây thơ. Đến tận Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim gần đây vẫn còn viết: “Người ấy (Tích Quang) hết lòng lo việc khai hóa, dạy dân lấy điều lễ nghĩa, cho nên dân trong quận có nhiều người kính phục”. Và “Dân sự quận ấy (Cửu Chân) ái mộ Nhâm Diên, làm đền thờ.”

Năm 34, có lẽ do chủ quan khi nhận định tình hình sau hai cuộc thám sát, Hán triều cử sứ đoàn do Tô Định cầm đầu xuống đồng bằng sông Hồng để tiến hành thực dân hóa quận Giao Chỉ. Nhiệm vụ của tân thái thú chắc chắn là phải xây dựng bộ máy bóc lột nhằm biến quận Giao Chỉ thành miếng bánh ngon giữa bàn tiệc thực dân, chứ không thể mãi mãi là mảnh đất ảo trang trí trên bản đồ đại Hán. Có thể Tô Định đã tiến hành vài cuộc khủng bố lẻ tẻ nhân danh thiên tử Tàu và áp Hán luật vào đời sống nhân dân sở tại. Không còn những hành động khoan hòa vờ vĩnh kiểu Tích Quang, Nhâm Diên. Tự do của người bản xứ đã bị xâm hại nghiêm trọng. Trưng Trắc, vị thủ lĩnh tự trị của vùng đất kề cận nơi Tô Định đặt bản doanh chịu sức ép thực dân nhiều nhất đã đứng lên hiệu triệu các thủ lĩnh khác cùng đoàn kết đánh đuổi thù chung.

Hai Bà Trưng nổi trống đồng khởi nghĩa năm 40, dân Việt đồng tình hưởng ứng khắp nơi. Tô Định chuồn thẳng về Nam Hải (tức Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) mà không hề có một trận chiến ra trò nào để sử sách hoặc dân gian truyền lại. Chi tiết này thêm một lần nữa xác tín bối cảnh được xây dựng ở trên là hợp lý. Qui mô đội quân chiếm đóng của Tô Định rất nhỏ, chẳng thể đánh đấm gì được.

Cuộc hành quân về Long Biên của Hai Bà Trưng nhanh chóng thành công. Điều này là tiền đề thuận lợi cho Hai Bà tập hợp được thêm nhiều lực lượng ủng hộ, tiến tới xưng vương rồi đóng đô tại Mê Linh.

Mùa xuân năm 42 Mã Viện mang theo quân thiện chiến sang quận Giao Chỉ. Bằng kinh nghiệm lọc lõi của một tên tướng phong kiến, Mã Viện kiên nhẫn đóng quân tại Lãng Bạc và nghe ngóng tình hình. Hai Bà Trưng chủ động tấn công trước và thất bại, phải rút về Mê Linh rồi Cấm Khê (chân núi Ba Vì). Mã Viện tiếp tục truy kích và tháng giêng năm 43 đã bắt được Hai Bà Trưng. Tàn quân Việt chiến đấu được vài tháng nữa mới tan rã. Dân gian Việt Nam có hai ngày giỗ Hai Bà Trưng là 6.2.43 và 8.3.43 (năm Quý Mão, âm lịch), có lẽ ngày đầu là ngày Hai Bà Trưng bị bắt và ngày sau là ngày họ bị hành hình. Ở đây xuất hiện hai khả năng: Một là Mã Viện giữ Hai Bà để dụ hàng nhằm kêu gọi nhóm nghĩa quân chưa buông vũ khí ra trình diện. Hai là Mã Viện thuyết phục Hai Bà kêu gọi nhân dân thuần phục nhà Hán và chấp nhận luật pháp Hán. Dù sao ta cũng biết chắc một điều Hai Bà Trưng đã không chịu thỏa hiệp dù phải bỏ mình.

Sự kiện Hai Bà Trưng anh dũng tấn công Mã Viện dẫn đến một liên tưởng hơi ngoài lề: Hậu Hán Thư không ghi nhận tổng quân số của Mã Viện nhưng chỉ riêng cánh tiến đánh Cửu Chân sau đó gồm hơn hai ngàn chiến thuyền và hơn hai vạn lính. Vậy ít nhất Mã Viện phải thống lĩnh lực lượng gấp rưỡi con số này cho trận đánh với Hai Bà Trưng. Cũng theo sách ấy, Mã Viện đã giết hại cả ngàn quân của Hai Bà Trưng và bắt sống hàng vạn tại Lãng Bạc. Như thế có thể đoán quân của Hai Bà Trưng cũng tròm trèm con số vài vạn, ngang ngửa với quân Mã Viện. Với lực lượng bề thế nhường ấy, nếu Cổ Loa của An Dương Vương thực sự được xây dựng tại đồng bằng sông Hồng (chứ không phải ở Quảng Tây như giả thuyết của tác giả bài này), thì tại sao Hai Bà Trưng không củng cố thành cũ để đương đầu với quân viễn chinh. Ngoài thực địa đền Cổ Loa Đông Anh chỉ cách Mê Linh trên dưới 20km đường chim bay, không hề bị sông lớn, suối rộng, núi cao, khe sâu ngăn trở, và Hai Bà Trưng có hơn 2 năm để chuẩn bị một cuộc kháng chiến dài lâu. Như vậy truyền thuyết An Dương Vương và Loa thành từng hiện hữu ở Việt Nam có thêm một nghi chứng phủ nhận.

Xin tạm che giấu cảm tính dân tộc và tinh thần quốc gia (những khái niệm không thể có ở thời Hai Bà Trưng), để đứng trên bình diện văn minh mà dè dặt nói: Kết cục cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và Mã Viện có thể tiên liệu trước, chế độ thị tộc mẫu hệ, hay ít ra là tàn dư của nó phải bị khuất phục trước một mô hình xã hội tân tiến hơn, để giải phóng sức sản xuất xã hội, phân công lại lao động, đưa con người và lịch sử tiến lên phía trước. Sự thật là Hai Bà Trưng đã phải đương đầu với Mã Viện, một tên tướng xâm lăng nên nguyên nhân thất bại cốt lõi của Hai Bà rất khó được chấp nhận đối với hầu hết người Việt Nam, không phân biệt trình độ nhận thức.

3. Con cháu Hai Bà Trưng ngoài đảo xa

Mùa xuân năm 43 Hai Bà Trưng bị xử trảm. Các tùy tướng của Hai Bà đem tàn quân rút chạy vào Cư Phong, thuộc Cửu Chân (Thanh Hóa). Mã Viện tiếp tục truy kích đến cuối năm 43 thì hoàn thành cuộc xâm lăng. Một bộ phận nữa phải hàng phục. Tuy nhiên có một bộ phận bất khuất không nhỏ đã lên thuyền ra khơi. Thời điểm cuối năm 43 hoàn toàn hợp lý và là chi tiết quan trọng, vì trên biển Đông bắt đầu vào đợt gió mùa Đông Bắc. Đây chính là đôi cánh tự do trời đất ban tặng cư dân Việt cổ, đẩy những con thuyền đưa họ đến eo Malacca. Cũng có khả năng nhiều người trốn chạy theo đường bộ, rồi hòa lẫn vào những bộ lạc sống dọc bờ biển trung bộ Việt Nam ngày nay. Họ đã góp phần xây dựng nên đế chế Chiêm Thành sau này.

Hiện nay có hai cộng đồng thị tộc mẫu hệ, nguồn gốc gần gũi, sống hai bên eo biển Malacca, thuộc hai quốc gia: 1. Cộng đồng thứ nhất là người Minangkabau, sống ở đảo Sumatra, Indonesia. Họ có khoảng 4 triệu người, chiếm ¼ dân số của đảo. 2. Cộng đồng thứ hai sống ở bang Negeri Sembilan, thuộc bán đảo Peninsular, Malaysia. Họ cũng là người Minangkabau. Họ vượt eo Malacca đến đây định cư khoảng từ TK 15 đến TK 16, và ngày nay sống rải rác trên một diện tích khoảng 6,645 km2, dân số hơn 722.000 (số liệu 1991). Negeri Sembilan dịch nghĩa là “Nước (số) chín”. Chữ “nước” ở đây đồng nghĩa với chữ “Nagar - nước, xứ sở” của người Chiêm Thành và chữ “Lạc – nác, nước” của người Lạc Việt xưa. Thủ phủ của Sembilan cách Kuala Lumpur khoảng 64 km.

Nền văn hóa của hai cộng đồng này mang bản sắc độc đáo và riêng biệt. Họ vẫn theo chế độ thị tộc mẫu hệ. Quyền thừa kế nằm hết ở giới nữ. Tuy nhiên trưởng tộc lại là nam giới. Lãnh thổ chung của họ chia thành những vùng tự trị có tên là Luak (Lạc?). Người đứng đầu vùng tự trị cũng là nam giới, do các trưởng thị tộc bầu lên gọi là Luak Undang. Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik, các em gái bà này nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi (tiếng Bahasa Indonesia lần lượt đọc là t'run ch'chik và t'run nhi). Ngữ âm này, sau biết bao biến đổi qua thời gian, đọc lên vẫn thấy mơ hồ hai cái tên Trưng Trắc, Trưng Nhị [1].

Về đời sống, nam giới có trách nhiệm chính với mẹ và chị em gái của họ trong thị tộc. Nhiều nơi, nam giới chỉ ở với vợ ban đêm, ban ngày trở về với chị em gái mình và những đứa cháu. Nữ giới lập gia đình thường ở lại nhà cha mẹ họ. Những người chị đã lập gia đình luôn có mối liên hệ gần gũi với các em gái chưa lập gia đình, thậm chí họ còn ở chung với nhau. Ở Indonesia hôm nay, người Minangkabau là những nhà kinh doanh giỏi. Điều này được tạo nên một phần bởi sắc thái văn hóa Minangkabau. Nam nhi Minangkabau phải rời gia đình đi tìm tương lai. Họ buộc phải thành công. Khắp Indonesia ta gặp rất nhiều các ông chủ lớn nhỏ người Minangkalau. Họ theo đạo Hồi đã vài thế kỷ. Tuy nhiên truyền thống văn hóa và tín ngưỡng đã hòa hợp một cách đáng ngạc nhiên.

Chế độ thị tộc mẫu hệ hiện tồn tại trong những cộng đồng người Minangkabau luôn lôi cuốn các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử và nhân loại học. Ngành du lịch Indonesia và Malaysia cũng khai thác triệt để tính đặc thù này để thu hút du khách. Trong rất nhiều đoạn phim quảng bá du lịch người Minangkabau đã không dưới một lần tuyên bố tổ tiên họ là người Việt và đã di cư đến Nam Dương bằng thuyền.

Kiến trúc truyền thống Minangkabau cũng khiến không ít người suy tư: “Ở Indonesia, người Minangkabau có những ngôi nhà mái cong rất đẹp, nhịp điệu bay bổng, phong phú, một mặt giống ngôi nhà sàn hình thuyền, một mặt lại giống mái cong của đình chùa Việt Nam [2]”.

Xin hãy tham khảo một giai thoại Minangkabau [3]: Ngày xưa có một mối bất hòa giữa người Minangkabau và người Java, thay vì giải quyết bất hòa đó bằng một cuộc chiến với máu đổ không cần thiết, họ thỏa thuận chọi trâu để phân định. Người Java có một con trâu khổng lồ, mạnh mẽ và hung dữ. Người Minangkabau chỉ có một con nghé con. Người Java rất tin tưởng con trâu của mình sẽ đè bẹp chú nghé kia. Vậy mà yếu đã thắng mạnh. Người Minangkabau bỏ đói con nghé nhiều ngày. Trước trận đấu họ buộc một con dao sắc vào đầu nghé. Vào trận nghé đói tưởng trâu là mẹ mình. Lập tức nó rúc vào bụng trâu để tìm vú. Con trâu kềnh càng đã bị chết vì dao đâm thủng bụng. Và người Minangkabau đã chiến thắng. Cũng theo giai thoại này Minang nghĩa là chiến thắng, kabau là trâu.

Bất kỳ người Việt nào cũng tìm thấy ở câu chuyện trên một thứ gì đó thật gần gũi với bản sắc văn hóa đồng bằng sông Hồng. Chuyện dân gian Trạng Quỳnh dùng nghé đấu Trâu của sứ Tàu với truyện trên, có lẽ là hai biến thể của một tư duy chung, một triết lẽ giản dị nhưng nhiều giá trị: Đề cao trí tuệ và lòng yêu chuộng hòa bình, hòa hợp, lấy trí thắng lực, hóa giải mâu thuẫn bằng trái tim nhân hậu. Và tôi chợt hiểu, linh vật trâu vàng cho lễ hội thể thao khu vực Đông Nam Á đầu tiên do Việt Nam tổ chức, tức Seagame 2003, đã được chọn bằng tâm thức văn hóa, lịch sử.

Phải chăng người Minangkabau ở Indonesia và Malaysia hôm nay cũng là con cháu của Hai Bà Trưng? Phải chăng cái tên mà hai ngàn năm nay người Việt tôn gọi Trưng Trắc, Trưng Nhị không phải là tên riêng mà là chức danh của hai hoặc một nhóm người phụ nữ Việt Nam bất khuất? Câu trả lời đang ở một tương lai rất gần.

4. Vua Bà và trống đồng

Xưa từ Hùng ý chỉ thủ lĩnh một vùng. Tùy Thư (thế kỷ VII), thiên Địa Lý Chí Hạ còn ghi “Người man (tức người Lạc Việt) ai giàu mạnh là người hùng”. Con vua Hùng là Quan Lang cai quản địa phận trực thuộc, qui mô chắc cũng như làng xã ngày nay. Chữ “Làng” có thể xuất phát từ chữ “Lang” trong “Quan Lang”, người Mường gần đây vẫn còn Quan Lang. Vậy có thể hiểu “Hùng” là người đứng đầu thị tộc mẫu hệ. Liên minh thị tộc mẫu hệ sẽ hình thành dạng nhà nước sơ khai như Văn Lang, và Vua Hùng hẳn là lãnh tụ của nhà nước sơ khai ấy.

Khi lưu vong đến Quảng Tây, các bộ tộc Lạc Việt cổ từ Động Đình Hồ vẫn còn gắn kết ở dạng nhà nước sơ khai kia, nó thể hiện trong truyền thuyết xung đột giữa “Thục vương tử” và Vua Hùng. Tuy vậy trước và sau thời điểm 179 TCN (năm Triệu Đà thôn tính Tây Âu Lạc của An Dương Vương) và 111 TCN (năm Lộ Bác Đức bình định Nam Việt), những nhóm người đi tiếp xuống đồng bằng sông Hồng có lẽ đã không thể bảo tồn hình thái xã hội Văn Lang cũ. Điều này khá dễ hiểu: Địa bàn mới hoang vu (dù chắc chắn tồn tại ít nhiều nhóm chủng tộc gốc Nam Á du canh du cư với kinh tế hái lượm, săn bắn), thổ nhưỡng ẩm thấp, mùa mưa ngập lụt chia cắt, dân số ít, giao thương trở ngại… Đến đầu công nguyên, ít nhất là tình hình dân số của các bộ tộc Lạc Việt ở đồng bằng sông Hồng đã được cải thiện. Để chống lại âm mưu nô thuộc của nhà Đông Hán, Hai Bà Trưng đã liên minh các thủ lĩnh vùng lại với nhau đánh đuổi Hán quan, xưng vương.

Ở xã hội Lạc Việt cổ, trống đồng là biểu hiện quyền uy của tù trưởng, tộc trưởng. Cũng Tùy Thư nói: “Khi chiến tranh thì trống đồng được đánh, người người khắp nơi nghe lời hiệu triệu tụ họp về. Dân Lạc Việt rất phục tùng người sở hữu trống” – đây phải chăng là câu trả lời dứt khoát cho hành xử của Mã Viện với quốc bảo trống đồng. Thật vậy, Mã Viện nam chinh đã phá vỡ liên minh Văn Lang vừa được Trưng Trắc tái lập nhưng buộc phải cho phép dân Việt tự trị ở đơn vị Làng. Thế là sau khi giết hại vợ chồng bà Trưng, Mã Viện vội vàng cho quân lính đi thu gom trống đồng nhằm bẽ gãy các cuộc phản kháng tiếp theo (nếu có) từ trong trứng nước. Bản chất gốc của vấn đề xem ra rất kín kẽ, còn hiện tượng Mã Viện nấu đồng đúc ngựa cảnh để chơi và dựng trụ làm cột thiên văn quan sát bầu trời, xác định vị trí khu vực vừa chiếm được trên bản đồ đế quốc Hán, chỉ là đám lá ngọn lòa xòa che mắt sự thật lịch sử.

Tôi đã gặp rất nhiều người Việt Nam không tin tổ tiên họ là chủ sở hữu của trống đồng, hoặc cho rằng đề cao trống đồng như quốc bảo của dân tộc là thiếu chứng lý. Họ bảo không như người Tráng tại khu tự trị Quảng Tây Trung Quốc (tức hậu duệ những thần dân của An Dương Vương không di cư chạy giặc Triệu Đà xuống đồng bằng sông Hồng năm 179 TCN) vẫn còn sử dụng trống cho lễ hội, trống đồng ở Việt Nam chỉ đào được nơi các vỉa đất của quá khứ. Hy vọng nguyên nhân mang tên Mã Viện tôi vừa nêu, sẽ góp phần chứng minh người Việt xưa đã phải đành đoạn chôn trống gửi đến tương lai, mong con cháu mình mãi mãi trân trọng và giữ gìn nó

Cùng với việc hủy hoại trống đồng và làm tan rã hình thức nhà nước sơ khai trên mảnh đất Việt Nam cổ, Mã Viện đại diện cho nhà Đông Hán cũng chính thức khai sinh đơn vị hành chính tự trị là Làng, Xã. Do được tự trị, tinh thần độc lập và tự chủ của người Việt Nam đã luôn được nuôi dưỡng dưới các nếp nhà sau lũy tre làng. Từ “Làng Nước” sinh ra từ đây. Làng trở thành một đất nước độc lập tự chủ thu nhỏ của những người dân Việt bất khuất. Hơn 800 năm sau, tinh thần ấy lớn mạnh rồi bùng phát để đưa cả dân tộc thoát kiếp nô lệ. Khi người Việt có quốc gia rồi, thì làng xã lại trở về thế đối lập một cách tương đối với các chính sách chính trị tổng thể của chính quyền trung ương. Để dung hòa lợi ích nhà nước và làng xã, mỗi làng đã được chính quyền chọn ra một vị thần được ưa chuộng nhất để sắc phong làm Thành Hoàng. Như vậy mâu thuẫn đã được giải quyết ở một mức độ chấp nhận được: ông vua của làng là thánh linh (hoặc một con người có thật đã được thánh hóa), được ông vua của cả nước hợp thức hóa bằng một văn kiện.

5. Kết luận

Người Lạc Việt cổ bắt đầu gần một thiên niên kỷ lưu vong từ chiếc nôi Động Đình Hồ, từ châu Kinh, châu Dương bên bờ Trường Giang khi văn minh Hoa Hạ nam tiến và nước Sở được hình thành. Đến Trưng Trắc thì sức người có hạn, văn minh vật chất sơ sài trong khi sơn đã tận mà thủy thì mênh mông, đa số họ bắt buộc phải dừng lại, nhẫn nhục chấp nhận thêm tám trăm năm nô lệ nghiệt ngã.

Máu lưu vong trước nghịch cảnh chính trị của tiên tổ người Việt Nam đã hơn một lần bùng phát, già ngàn năm trở lại đây nơi hậu duệ của họ: Khi nhà Trần tiếm đoạt vương quyền, một nhánh họ Lý đã chạy qua Cao Ly. Lê – Mạc đấu đá rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh, bao người phải bỏ xứ xuống khai phá đồng bằng sông Cửu Long trù phú. 1954 và 1975, hàng triệu sinh linh lại lên đường vào nam, hoặc ra biển tỏa khắp năm châu. Ai đó đã có lần so sánh người Việt Nam với dân Do Thái ở góc độ lưu vong, cũng chẳng khập khiễng chút nào.

Tự đặt mình vào bối cảnh năm 40 sau Công Nguyên, tôi bỗng thấy hình ảnh sáo mòn Hai Bà Trưng “phất cờ khởi nghĩa” có vẻ không hợp lý. Nên chăng hãy hình dung những hồi trống đồng liên hoàn dưới các nếp nhà sàn hiền hòa, thôn nối thôn, làng tiếp làng, thị tộc này kêu gọi thị tộc khác cùng đoàn kết trong âm vang tự do dưới sự lãnh đạo của Trưng Trắc tiến thẳng về Long Biên, quét sạch bắc quân xâm lược.

Hai Bà Trưng ra đi khép lại thuở bán khai trên đất mảnh đất tiền Việt Nam. Thời điểm này chính là hoàng hôn trước đêm dài nô lệ. Người Việt biết chấp nhận nỗi nhục thiếu tự do để học hỏi, tự hoàn thiện mình. Thỉnh thoảng một vài ngọn đuốc lại bừng sáng mang nhiều cái tên anh hùng như Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan hay Phùng Hưng. Đáng kể là hơn nửa thế kỷ độc lập của Lý Nam Đế cùng các phụ triều trong giấc mơ Vạn Xuân đầy hiện thực. Đó là những bước tiến vững chắc, không thể phủ nhận của con người và đất nước thời khởi sử, làm bệ phóng cho kỷ nguyên tự chủ bắt đầu với Khúc Thừa Dụ năm 905. Tám trăm năm tròn bắc thuộc là cái giá quá đắt nhưng không hề vô nghĩa. Dân tộc Việt Nam, văn minh Việt Nam hình thành trong gian khó và thử thách đã lớn mạnh vượt bậc. Từ đó về sau phong kiến phương bắc không lần nào hoàn toàn khống chế được họ nữa. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đại diện thực dân châu Âu là Pháp Lang Sa, với ưu thế hơn hẳn họ về sức mạnh vũ khí được sản xuất dưới một nền khoa học kỹ thuật tân kỳ, tổ chức xã hội tư bản tiến bộ, cũng chỉ áp đặt sự đô hộ không đồng bộ của chúng trên mảnh đất này tròm trèm 80 năm mà thôi.

Nếu không kể đến An Nam Chí Lược (1335) của một kẻ bán nước, từ quyển hiến sử đầu tiên còn lưu lại đến ngày này là Đại Việt Sử lược (1377 – 1388), sử gia Việt Nam vừa xem sách Tàu, vừa chấm bút lông vào nước lã để viết về ông Thi. Thậm chí họ còn sơ ý nhầm tên chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách! Năm tháng qua đi, sách sử nối nhau ra đời, Bà Trưng Trắc vẫn phải làm một quả phụ bất đắc dĩ, gồng gánh thêm bao nhiêu khái niệm không cùng thời với bà. Lối tư duy suy diễn chủ quan, nô lệ sách Tàu và kinh viện, kết hợp với truyền thống tạo dựng chính sử thiên kiến và không tôn trọng sự thật một cách có hệ thống, vô hình chung đã tô son trát phấn lên bà mẹ chân đất được Thủy Kinh Chú mô tả là “vi nhân hữu đảm dũng”. Kết quả là người mẹ vĩ đại của họ chẳng đẹp hơn tí nào. Nó chỉ khiến người đời chạnh buồn cho những đứa con vụng về, xốc nổi và đồng bóng của bà.

Mảnh đất hình chữ S có tên Việt Nam ngày nay hiện hữu khoảng 200 đền thờ Hai Bà Trưng. Đó là tuyên bố rõ ràng nhất về vai trò lớn lao của Hai Bà trên non sông này. Mọi lý thuyết học thuật cổ kim đều không thể phủ nhận bản chất anh hùng và tinh thần bất khuất của Hai Bà Trưng, vị Vua Bà đầu tiên và cuối cùng của mảnh đất Việt Nam, người mẹ đáng kính của lịch sử Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Chú thích

[1] Các ngữ âm dẫn theo gợi ý của Phạm Chánh Trung – Trang web viethoc.org
[2] Văn ngọc: Từ những ngôi nhà hình thuyền, www.zdfree.free.fr/diendan/articles/u125vngoc.html
[3] Dẫn theo Dien A. Rice: “Minangkabau Life and Culture”, www.haqq.com.au

...........................................................................

Về tác giả: Ông Trương Thái Du, 37 tuổi, hiện ngụ cư tại Đà Lạt. Chuyên môn là Kỹ sư hàng hải nhưng gần đây tác giả đã bỏ nghề đi biển và công việc kinh doanh cũ để viết văn.

Tác giả nói: "Vài bản thảo đã bị nhiều nhà xuất bản ở Việt Nam từ chối in nên chỉ có thể phổ biến miễn phí trên mạng. Do những nghiên cứu này đã, đang và sẽ nằm trong các trường thiên tiểu thuyết nên nó mang nặng tính văn chương và lịch sử nghiệp dư. Tuy nhiên tác giả cam đoan chúng hoàn toàn không dính líu đến yếu tố giả tưởng, mặc dù sai sót và hạn chế là không thể tránh khỏi."

...........................................................................

Anonymous
Phải nói là tác giả có suy nghĩ khá là độc đáo về nguồn gốc dân tộc Việt chúng ta và nhiều thứ khác nữa! Tuy nhiên tôi thấy cũng cần phải phát biểu 1 số điều mà mình biết để bà con tham khảo:

1. Chữ "Việt" là tên mà người Hoa Hạ (dân tộc TQ) đặt cho vùng đất thuộc người Hoa kể từ hồ Động đình trở về phía nam. Tên đó đã có từ rất xưa, lịch sử TQ đã nhắc đến tên này từ đầu thời Chu, giống như tên các vùng đất khác của TQ như Ngô, Sở, Hàn, Tần ....

2. Người sống trên đất Việt (thuộc TQ) là người Hoa, nói tiếng Hoa.

3. Phía nam của đất Việt đó là đất của các dân tộc khác, mà người TQ gọi chung là Bách Việt (bách được sử dụng để chỉ số lượng lớn, giống như trong từ bách tính), trong đó có người Việt Thường, các dân tộc Mường, Dao, Thái...còn ở VN và ở biên giới Việt -Trung ngày nay, hay người Choang ở Nam TQ...

4. Người Việt chúng ta hiện nay có thể đã có 1 sự pha trộn di truyền rất lớn với các dân tộc khác và không còn giống nhiều với tổ tiên của chúng ta là người Việt Thường ngày xưa nữa.

5. Tên Giao Chỉ không phải là được đặt cho 1 vùng đất rộng lớn ở nam Trung quốc mà chính xác là đặt vùng đồng bằng và trung du bắc bộ của chúng ta ngày nay. Tên Giao Chỉ đó có là vì tổ tiên Việt Thường của chúng ta có ngón cái của 2 bàn chân chĩa vào trong, khi hai bàn chân để song song thì hai ngón cái quay đối đầu nhau. Người ta đã phát hiện không ít mộ cổ ở Bắc bộ có dấu vết của bàn chân như vậy. Dấu vết đó hoàn toàn không được phát hiện ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, kể cả ở miền nam TQ.

6. Trống đồng được phát hiện cả ở VN lẫn TQ, điều đó không lạ vì người TQ lúc đó có trình độ phát triển cao hơn người Việt Thường rất nhiều, họ đúc được đủ thứ bằng đồng (rất nhiều nhạc khí bằng đồng vẫn còn lưu lại đến giờ), chẳng lẽ lại không đúc được trống. Tuy nhiên cấu tạo và trang trí mặt trống thì của VN ta hoàn toàn khác của họ nên khó có thể coi là cùng 1 gốc.

7. Tất cả các truyền thuyết mà ta còn được nghe đến bây giờ đều đã bị biến đổi đến mức khó có thể xác định được nó bắt nguồn từ đâu và xuất hiện khi nào. Vì vậy chúng hoàn toàn chỉ có giá trị tham khảo, kể cả tên các vị anh hùng thời Hai bà Trưng lẫn những chiến công của họ. Tài liệu ít sai lệch nhất có lẽ chính là sử sách của TQ, nhưng mà sách sử bao giờ cũng bị ảnh hưởng của chính trị nên khó có thể tin hoàn toàn vào nó.

Nghiên cứu lịch sử Việt nam quả là 1 công việc vô cùng khó khăn, vì vậy rất cần sự nghiêm túc.

Nhận xét riêng của tôi về bài viết đó: bài viết sử dụng quá ít kiến thức về lịch sử và khảo cổ nhưng lại có quá nhiều lý luận 1 chiều !

Tâm Xuân
Tôi thấy tên tuổi thời Hai Bà không giống bây giờ, tức là bây giờ đã có sự lai giống rồi, nếu không do ảnh hưởng theo đường Mẹ thì có lẽ nước mình chỉ là một tỉnh của Tàu thôi. Đồng ý là bài viết trên chỉ là suy đoán nhưng là suy đoán có thể chấp nhận được, không thể nói nếu không có bằng chứng cụ thể thì không phải là khoa học. Như lý thuyết tương đối lúc ban đầu cũng chỉ là suy luận toán học thôi.

Nguyên Vi, Vancouver
Người Việt Nam ta có nhiều sáng kiến và suy luận chủ quan. Tác giả dựa vào lịch sử của các nước láng giềng và của Việt Nam và viết lại theo suy luận chủ quan. Ông ta không có những dẫn chứng có tính cách khách quan như những di tích và mẩu vật khai quật được.

Nếu tác giả dựa vào những dẫn chứng có tính cách khách quan thì câu chuyệng lý thú hơn. Bài viết này có tính cách dã sử! Giống như chuyện cổ tích (legends) cho trẻ em đọc cho vui chứ không có tính cách lịch sử nghiêm túc. Cho đến khi người Việt biết nghiên cứu khách quan, Việt Nam ta sẻ khá hơn về khoa học, xả hội và nhân văn.

Đây không phải là lời chê bai nhưng tôi cũng có lời khen ngợi tác giả có những ý nghĩ rất là sáng tạo nhưng chưa đạt đến đỉnh cao của loài người. Đó là khách quan hay là còn gọi là nghiên cứu có tính cách khoa học.

Hoàng Hưng, Prague
Tôi đã đọc gần hết các bài khảo cứu của ông Trương Thái Du trong vnthuquan.net và so sánh với các khảo cứu của các tác giả khác. Phải công nhận là tác giả đã khá là dày công nghiên cứu và có cái nhìn rất mới mẻ.

Lịch sử của Việt Nam chỉ được rõ ràng từ hơn một nghìn năm nay, còn trước kia thì thật là mù mờ và chắc chắn là có nhiều cái sai. Lý do là vì dân tộc ta không có chữ viết riêng, tất cả những gì biết được đều phải dựa vào sách Tầu và khảo cổ. Hơn nữa người chép sử không phải tất cả là trung thực mà thời kỳ đó lại là do người Hán chép muốn hay không họ cũng có cái nhìn thiên về họ, có lợi cho họ.

Ngay bản thân các nhà chép sử VN ta cũng vậy, khi gần đây khai quật khu Dương Kinh ( kinh đô thứ 2 của nhà Mạc, nay thuộc Hải Phòng ) mới có cái nhìn khác về triều Mạc, nhất là về con người Mạc Đăng Dung.

Cho nên sử sách rất cần những con người như ông Trương Thái Du, có thể là còn rất nhiều vấn đề tôi và mọi người không đồng ý. Nhưng dù sao chúng ta cũng lên trân trọng tình cảm của ông dành cho sử sách nước nhà. Mong ông có nhiều nghiên cứu hơn nữa.

Lệ Quyên, TP. HCM
Tôi có xem một phim tài liệu về du lịch Đông Nam Á, khi cô giới thiệu viên chương trình người Anh Quốc khi tơí một làng dân thiều số ở indonesia, có phỏng vấn ngưòi dân làng về kiến trúc và văn hóa vô cùng độc đáo và lạ lùng là- những mái nhà cong cao vút hình con thuyền, những người làng liền trả lời là theo gia phả thì tổ tiên họ xuất phát từ Việt Nam !! Tôi rất ngạc nhiên và tài nào không hiểu.

Nhưng nay tình cờ đọc bài viết lịch sử này cũa bác Trương Thái Du, đã giải thích cặn kẽ và lý thú. Xin cám ơn tác giả và ban Việt ngữ đài BBC. Hy vọng các bài viết nghiên cứu như vậy được phổ biến và là đề tài cải cách giáo dục, trong báo chí, truyền thông và chương trình giảng dạy tại vn.

Quý Đại, Munich
Viết sử phải cẩn trọng đưa ra vấn đề nào đó để bàn luận, cần nhiều ý kiến của các sử gia, cũng như tham khảo tài liệu dẫn chứng có tính cách khoa học, không thể mơ hồ như viết truyện dã sử. Không ai có quyền sửa lịch sử Việt Nam theo cái nhận xét riêng của mình.

sử gia Tràn Gia Phụng đưa vấn đề Hai Bà Trưng, trong cuốn Việt Sử Đại Cương. Viết rất công phu về thân thế của Hai Bà Trưng. Mong ông Du bỏ thì giờ đọc thêm. Chúc ông thành công với nghề viết sử.

Minh An
Trước hết tôi xin cảm ơn bài viết của ông Trương Thái Du. Tôi xin mạn phép hỏi ông đã đọc qua bài viết của tác giả Trần Gia Phụng chưa? Nếu có sao không ghi trích dẫn? Thứ hai, những lý luận của ông chứng tỏ hậu duệ của Hai Bà Trưng di cư qua vùng Malacca..., chứng cứ ông đưa ra về ngôn ngữ và kiến trúc, tôi có thể suy luận ngược lại là chính dân Malacca di cư qua đất Việt ta ? Còn về những truyện dân gian, truyện cổ tích, chắc hẳn ông cũng bíêt Tấm Cám và Cinderella có điểm giống. Xin hỏi ông có thể qua đó nói gì về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam không?

An Nam
Đây là nghiên cứu rất công phu của Ông Trương Thái Du. Tôi cũng đã cố gắng tham khảo thêm các bài viết khác của ông và các tác giả khác trên Talawas để có thể tìm hiểu kỹ hơn về cái nhìn về lịch sử của Ông về người Việt cổ.

Ông đã đưa được nhiều yếu tố để phân tích và có những nét mới. Tuy còn nhiều chi tiết chưa có thể chứng minh bằng khoa học và lịch sử, có lẽ do cha ông chúng ta bị đô hộ quá lâu bởi triều đình phuơng Bắc nên một số lớn các tư liệu đã bị mất đi vào thời kỳ bắc thuộc này và lịch sử của chúng ta ngày nay đã bị nhào nặn, tô vẽ để phù hợp với tư tưởng của tầng lớp thống trị phong kiến đã bị lối mòn về quan điểm ý thức hệ và sách vở chi phối.

Theo tôi người Việt cổ đã từng phát triển rực rỡ với nền văn minh lúa nước và cuộc sống gắn liền với biển cả. Chỉ tiếc rằng, người Việt Cổ không có chữ Viết để lưu truyền và người Việt của chúng ta đã phải tản mác khắp nơi với bao cuộc di dân lớn để cuối cùng chúng ta định cư tại một dẻo đất nhỏ bé hình chữa S mà luôn bị phương Bắc nhòm ngó.

Vì thế, đã đến lúc nhìn lại kỹ hơn về lịch sử Việt Nam để con cháu chúng ta biết tổ tiên chúng ta là ai? từ đâu đến và nền văn minh cổ đại của chúng ta như thế nào? Nếu chúng ta không làm bây giờ thì càng lúc những chứng cứ của lịch sử sẽ mất đi và con cháu của chúng ta sẽ không biết về quá khứ. Quá khứ thì mù mờ, đương đại thì lệch lạc, tương lai làm sao rõ nét được?

Tôi mạn phép đưa ra thiển ý của mình, nếu có thể, mong ông giới thiệu cho thính giả BBC về những nghiên cứu của Ông đã được phổ biến để chúng tôi rộng đường tham khảo. Những suy nghĩ có tính chất táo bạo của Ông Trương Thái Du rất cần được trân trọng và nghiên cứu tỉ mỉ hơn nữa. Mong lắm thay.

Nguyễn Tri Đồ, TP. HCM
Rất cảm ơn ông Trương Thái Du có những gợi ý rất độc đáo. Có lẽ tôi cần khảo cứu thêm nữa theo gợi ý từ công trình của ông. Và mong rằng có nhiều người cùng khảo cứu. Bởi vì tôi thấy những văn bản cổ đại làm căn cứ khoa học của chúng ta đã bị lịch sử đánh cướp. Ví dụ ngay câu “Bà Trưng quê ở Châu Phong ...” chỉ có thể viết bằng chữ Nôm thế kỷ 19 trong sách Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca. Đến những tác phẩm đời Hồ, Trần, Lý trở về trước thì không còn.

Mấy chữ Bố Cái Đại Vương tôn xưng Phùng Hưng (năm 791) thì mãi 600 năm sau mới được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1427) ghi lại. Dựa vào khối từ vựng như “học , tập , sách ...” toàn là chữ Hán , có người cho rằng trước khi Nhâm Diên , Sĩ Nhiếp đến, chúng ta còn hoàn toàn mông muội . Cứ căn cứ vào văn bản kiểu đó, cho nên Sĩ Nhiếp được tôn làm “Nam Giao Học Tổ”.

Đầu thế kỷ 20, người ta thống kê thì “bụng , cổ , ngực, tai .v.v..” chúng ta lấy của Thái, “đầu, mi .v.v...” chúng ta lấy của Hán, với căn cứ khoa học đó thì người Việt thậm chí không có đầu. Trưng Trắc, Trưng Nhị thư tịch cổ Trung Quốc chép bằng chữ Hán trước thư tịch Việt Nam hơn một ngàn năm. Đến như “tuyết bích (Sprice), khả khẩu khả lạc (Coca cola)” cũng là chữ Hán y như rằng không hề có công ty Coca cola của Mỹ trên đời.

Cho nên chẳng trách bạn đọc có người cho rằng ông Trương Thái Du cảm tính chủ quan. Cũng như tôi từng chủ quan cho rằng rất nhiều vị Phật như Địa Tạng Vương v.v...là người Hán vì tên Phật nào cũng là tên Hán, mãi đến một ngày có vị học trò là tu sĩ dạy lại cho tôi biết tất cả các vị Phật có tượng trong chùa Ung Hoà Cung (Bắc Kinh ) đều là người Ấn Độ.

Làm sao để đừng gọi Hai Bà là Trưng Trắc Trưng Nhị mà phải gọi là “t'run ch'chik và t'run nhi”, thì hiện tại nằm quá xa sức của tôi. Làm sao để chứng minh trống đồng là đặc trưng tiêu biểu của người Việt khi mà khắp vùng Hồ Bắc Hồ Nam cho đến Quảng Tây có trống đồng còn to hơn cái trống ta đang có. Năm ngoái, Quảng Tây còn mở cả hội nghị quốc tế về trống đồng, rất lâu rồi họ đều tuyên bố trống đồng là của họ. Vậy ông Trương Thái Du ở chừng mực nào đó có lý khi bảo từ Động Đình Hồ về nam đều là đất ngày xưa của Việt ta, rằng có những thủ lĩnh Việt chôn trống đồng để khỏi bị Mã Viện thu gom.

Tôi nghĩ khi giảng cây tre cương nhu phối triển là cây biểu trưng của môn võ Vo Vi Nam Việt Nam, thì cũng nên bảo học trò tham khảo kiến thức đối lập rằng diện tích Trung Quốc thời hiện đại cũng có tre (trúc) , thậm chí còn có cả gấu trúc chuyên ăn tre, để học trò ngay thưở trường huyện ngày xưa ấy đã biết suy nghĩ từ nhiều góc độ và quen lối tham khảo những ý kiến ngược với mình.

Tôi học Hán Nôm nên khó thoát khỏi nói dựa vào sách Hán sách Nôm. Xin ủng hộ và cảm ơn ông Trương Thái Du có lối tiếp cận khác chúng tôi.

Paramita
Tôi không ngờ tác giả còn trẻ trong giới nghiên cứu sử nhưng lại viết hay thế. Rất trân trong và mong có những bài tiếp tục như vậy.

Ẩn danh
Tôi hoàn toàn không đòng ý. Tất cả chỉ dựa trên sự suy đoán đơn thuần mà không có một dẫn chứng khoa học cụ thể nào. Đúng là quan điểm riêng nhưng không thể là quan điểm riêng bừa bãi. Tất cả cũng chỉ nói chung chung mà thôi.Không có cơ sở khoa học làm sao nói chính xác được.

Với một bài viết như thế này và với nội dung bài viết như thế này mà dám phủ nhận An Dương Vương và Loa Thành thì thật là hồ đồ. Chứng tích của Loa Thành còn đó, đền thờ An Dương Vương còn đó. Ai là người dám đạp đổ cái! sự thật đã được khoa học công nhận. Tôi không dám nói là lúc nào khoa học cũng đúng nhưng khi mà chỉ ra cái sai của Khoa học hãy nói là khoa học sai. Đừng suy đoán trong các vấn đề về lịch sử.

Nguyễn Nam, TP. HCM
Cảm ơn tác giả đã có một bài nghiên cứu rất hay. Tôi tuy không phải là nhà nghiên cứu sử, nhưng bằng trực giác, thì đã từ lâu tôi đã ngờ ngợ rằng, thời kỳ Hai Bà Trưng, phải chăng vẫn đang còn tồn tại chế độ mẫu hệ? Nếu không thì như Vua Tự Đức đã tùng hỏi: thế thì đàn ông nước Nam đi đâu cả? Và ngày nay, tục thờ Mẫu vẫn còn tồn tại, đặc biệt nhiều ở miền Bắc.

Minh Nam, Việt Nam
Tôi khâm phục và kính trọng sự lao động khoa học rất khách quan và nghiêm túc của ông Trương Thái Du. Nếu giới sử học của Việt Nam cũng có phương pháp làm việc như vậy thì nước ta sẽ có những tài liệu, những cuốn sách sử học ngày càng chính xác. Trước thanh thiên bạch nhật, tôi xin chắp tay, cúi đầu tỏ lòng ngưỡng mộ phẩm chất cao quý của một con người chân chính đầy khiêm tốn.

Quốc Huy
Tôi rất bất ngờ, có lẽ phải mời thêm các nhà sử học tham gia. Cảm ơn anh Trương Thái Du đã nghiên cứu và đặt vấn đề sẽ rất nóng bỏng trong thời gian tới, mặc dù tôi chưa có điều kiện tìm hiểu thêm nhưng trong tiềm thức có vẻ tôi nghiêng theo nghiên cứu của anh.

Trần Hùng, Canada
Một bài khảo cứu rất hay và đáng suy ngẫm. Thành thật cảm ơn ông bạn Trương Thái Du. Cảm ơn BBC đã đăng tải bài khảo cứu này.

 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
Đài BBC có thể biên tập lại ý kiến của quí vị và không bảo đảm tất cả thư đều được đăng.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân