Việt Nam học thế kỷ 21
 

------------------------------------------------

 
- Trí thức Hà Nội

------------------------------------------------

 
- Âm thanh Sài Gòn

Chiến tranh Việt Nam
Lời giới thiệu: Cuộc chiến Việt Nam, kết thúc hơn ba thập niên trước, vẫn là đề tài thu hút quan tâm của các sử gia hôm nay. Xin giới thiệu bài viết của một nhà nghiên cứu, người mới đây (2008) ra mắt cuốn sách về cố gắng của Mỹ xây dựng nhà nước ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1968.

Trong một cuộc họp tháng 12.1964 cùng những cố vấn chính sách chủ chốt, tổng thống Lyndon Johnson bực bội vì thiếu tiến bộ ở Việt Nam.

Phản ứng trước lý luận rằng ông lựa chọn một cuộc chiến mở rộng bên trên vĩ tuyến 17, tổng thống vặc lại “chẳng ai đưa bà quả phụ ra để tát Jack Dempsey” (huyền thoại quyền anh nước Mỹ).

Trong ngôn ngữ hoa mỹ của Johnson, “bà quả phụ” là chính thể lung lay ở Sài Gòn và nỗ lực cả thập niên cố xây dựng một nhà nước “Nam Việt Nam” mới.

Johnson hiểu rõ rằng nỗ lực xây dựng nhà nước diễn ra từ năm 1954 đã không đem lại một nhà nước dân chủ hiện đại. Thực tế, tổng thống đã thừa nhận thất bại cơ bản của chính sách Mỹ.

Cơ sở hạ tầng

Vào cuối năm 1964, nửa miền nam của Việt Nam vẫn thiếu cơ sở hạ tầng xã hội, kinh tế, chính trị của một nhà nước vững bền. Ngoài ra, cuộc nổi dậy của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã thực hiện các vụ tấn công ngày càng công phu, hiệu quả, kiểm soát các khu vực lớn ở nông thôn. Tóm lại, vấn đề cho Hoa Kỳ, như Johnson chỉ ra, không phải ở trên mà ở dưới vĩ tuyến 17.

Lyndon Johnson cũng không chỉ đơn giản có thể tăng quân lực để đẩy lùi kháng chiến. Với công chúng, chưa có một “cuộc chiến của Mỹ” nổ ra ở Việt Nam. Và không ai, kể cả Johnson, muốn nhận trách nhiệm gây chiến.

Vì những lý do chủ yếu liên quan chính trị trong nước, tổng thống hành động thận trọng trong cả năm 1964, kéo dài thời gian chờ cho một giải pháp bất ngờ xuất hiện. Rốt cục chẳng thấy giải pháp nào.

Trong nỗ lực cứu nguy tình hình ở Việt Nam và giữ uy tín cho Mỹ, chính phủ bắt đầu lặng lẽ nhúc nhích trong nửa cuối năm 1964 để nắm thêm trách nhiệm và tăng sự có mặt trực tiếp của Mỹ ở miền Nam.

Không phải dễ cho việc nắm chủ động và gửi hàng ngàn quân Mỹ. Các chuyên gia hậu cần quân đội nhận thức rằng không có đủ cơ sở hạ tầng để hỗ trợ chừng đó quân.

Không thể mở cuộc chiến quy mô lớn tại Việt Nam – đường xá không đủ, không doanh trại, kho hàng, sân bay cũng thiếu. Sẽ phải xây nhiều để dọn đường cho sự mở rộng quân sự của Mỹ.

Chính quyền quyết định mở rộng hợp đồng tư với liên minh xây dựng – gồm công ty Raymond International và Morrison-Knudsen. Hai hãng này nhanh chóng vời thêm nhóm khác – J.A. Jones và Brown & Root – để lập ra RMK-BRJ.

Tập đoàn tư nhân khổng lồ này nhanh chóng chuyển hóa miền Nam với sân bay, cảng, kho hàng, vân vân.

'Kỳ tích xây dựng'

Họ thực thi cái mà họ gọi lúc bấy giờ là “kỳ tích xây dựng của thập kỷ”.

Bắt đầu từ cuối mùa hè, tổ hợp này nhận đơn đặt hàng tại trụ sở ở Việt Nam. Nhân lực người Việt tăng hơn 120%, từ chưa đầy 5000 lên 11.000.

Quốc hội đồng ý chi 100 triệu đôla cho các dự án xây dựng năm 1965 và sang năm sau, tổ hợp đổi tên thành The Vietnam Builders.

Đến cuối năm 1965, số lượng quân Mỹ tăng lên 184.000, và hơn 120 con tàu chở thiết bị chiến tranh thả neo gần Sài Gòn suốt nhiều tháng vì không đủ chỗ dỡ hàng.

Một nhóm điều tra quốc hội năm 1966 bất mãn kết luận: “Năng lực cảng của Việt Nam là yếu tố chính ảnh hưởng tới mức độ trợ giúp – cả kinh tế và quân sự - mà Mỹ có thể dành cho Việt Nam.”

Nhịp độ xây dựng các dự án quân sự tăng tốc từ 1966 cho đến suốt một năm rưỡi tiếp theo.

Trong thời gian ngắn ngủi đó, tổ hợp đã bỏ ra 670 triệu đôla – so với 130 triệu của suốt bốn năm trước đó.

Hậu cứ Long Bình, bến Tân Cảng, sân bay Tân Sơn Nhất, và các căn cứ quân sự khổng lồ ở Vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng đã tiêu tốn 790 triệu đôla khi hoàn thành.

Năm dự án này, dù tốn tiền, cũng chỉ chiếm chưa đầy một nửa tổng chi phí xây dựng mà Mỹ muốn có để phòng thủ miền Nam. Cho đến khi mãn hạn hợp đồng, Vietnam Builders đã đầu tư gần hai tỉ đôla trải dài khắp miền Nam.

Họ đã biến miền Nam thành nơi đủ sức đón nhận sự có mặt quy mô của Mỹ, để có 536.000 lính vào cuối năm 1968.

Đến năm 1968, cuộc chiến đã in dấu lên Việt Nam. Một cuộc chiến lớn hơn có nghĩa là sự tàn phá cũng lớn hơn. Cũng có nghĩa là tham nhũng gia tăng, kinh tế bị bóp méo, xã hội biến đổi, khủng hoảng sức khỏe.

Hậu quả chiến tranh

Giới chức bị sốc khi thấy cuộc chiến tàn phá nông thôn, thúc đầy dòng tị nạn khổng lồ (khoảng bốn triệu trong năm 1968) đổ dồn vào vùng đô thị, vào các trại tị nạn dọc vùng biển.

Chiến tranh cũng làm 100.000 thường dân thương vong mỗi năm. Dịch bệnh tăng vọt; dịch tả tăng từ hàng trăm lên đến 20.000 vụ. Khoảng từ 30.000 đến 50.000 người cụt chân tay chờ được lắp chân giả. Và chính phủ Sài Gòn chỉ dành chưa đầy 1% ngân sách cho dịch vụ y tế.

Sự méo mó kinh tế cũng gây hậu quả khủng khiếp. Sự có mặt mở rộng của Mỹ và chương trình viện trợ quân sự gây sốt lạm phát.

Chi phí đời sống tăng 74% vào quý hai năm 1966. Một năm sau, giá cả tăng 190% so với mức của 1965, làm đại sứ Mỹ phải tuyên bố “vấn đề kinh tế nay là ưu tiên hàng đầu”.

Chi phí đời sống tăng 74% vào quý hai năm 1966. Một năm sau, giá cả tăng 190% so với mức của 1965
James Carter
 

Lạm phát tiếp tục leo thang, làm hàng hóa và tiền mặt vương vãi trên thị trường chợ đen, và rồi chảy vào kho chứa an toàn từ Nhật, Hong Kong, sang các ngân hàng châu Âu.

Một viên chức than rằng chiến tranh đã tạo thành “bản giao hưởng toàn quốc của trộm cắp, tham nhũng và hối lộ”.

Chính thể Sài Gòn không thể nuôi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ.

Đến khi Tết Mậu Thân xé toạc sự đồng thuận ở Washington, cuộc chiến thực ra từ trước đã phá vỡ mục tiêu lớn hơn của Mỹ tại Việt Nam – tạo dựng một quốc gia hiện đại, tự chủ phía dưới vĩ tuyến 17.

Từ trước đó, giới chức đã thôi nói về xây dựng quốc gia, cải cách ruộng đất, dân chủ, minh bạch. Thay vào đó, họ bàn về một cuộc chiến phải thắng trước những kẻ thù của nhà nước hư cấu “miền Nam Việt Nam” (fictive state).

Quỹ đạo này của chính sách Mỹ khiến người ta gần như không thể nói thực về thành công, thất bại, đặc biệt là với các nhà hoạch định chính sách.

Chưa bao giờ Hoa Kỳ đạt tới điểm khi chính thể Sài Gòn có thể tự mình tồn tại mà không nhờ viện trợ Mỹ.

Trớ trêu thay, chính cuộc chiến lại giáng cú đánh chết người cho dự án đó.

Đến năm 1968, miền Nam cũng chẳng ở vị trí khá hơn các năm trước để có thể tuyên bố không cần viện trợ Mỹ. Có thể nói, khi đó miền Nam còn yếu thế hơn trước.

Về tác giả: James M. Carter, nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Houston, hiện dạy lịch sử ở Đại học Drew và là tác giả sách Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (NXB Đại học Cambridge, 2008).

Rất nhiều ý kiến tranh luận về bài này. Mời quý vị đọc tại đây.
^^ Quay lại đầu trang Quay lại đề mục chính