Mổ đẻ và sinh con thời hiện đại

Alamy Bản quyền hình ảnh Alamy

Trong bài Điều gì khiến người mẹ phải 'mang nặng, đẻ đau'?, BBC Earth đã nói về thuyết 'sự khó khăn trong sinh nở' cũng như quá trình tiến hóa của loài người trong vấn đề này.

Thuyết sự khó khăn trong quá trình sinh nở, được nhà nhân chủng học Sherwood Washburn, đặt tên hồi 1960, về sau nay đã bị nhiều nhà khoa học khác xem xét lại.

Ba chuyện không tưởng khi mang thai

Tại sao con người không đi bằng bốn chân?

Vì sao một thời con người ăn thịt nhau?

Theo thuyết trên, việc đứng lên đi bằng hai chân khiến xương chậu và đường dẫn sinh của tổ tiên chúng ta, vốn từng có cấu trúc thuận lợi cho việc sinh nở, phải biến đổi để thích nghi. Do đó, các hài nhi thời bảy triệu năm về trước có thể đã phải vặn vẹo, xoay sở để chui qua được đường dẫn sinh, khiến việc sinh nở trở nên khó khăn hơn nhiều so với trước.

Bản quyền hình ảnh Juan Manuel Borrero/naturepl.com
Image caption Hàng triệu năm trước, tông hominin đã đi thẳng trên hai chân

Rồi đến chừng hai triệu năm trước, các tổ tiên tông hominin của chúng ta lại bắt đầu thay đổi. Họ mất đi các đặc tính giống với vượn như cơ thể ngắn nhưng tay dài, não nhỏ. Thay vào đó, họ bắt đầu mang những nét giống với người thời nay hơn, như cơ thể cao hơn, tay ngắn đi, não to hơn.

Sự sống chỉ là sản phẩm của toán học?

Chúng ta có bị thế lực nào điều khiển không?

Chúng ta sống thật hay sống ảo?

Vậy là giống cái của tông hominin phải duy trì xương chậu hẹp với ống dẫn sinh bị hẹp lại để có thể đi lại hiệu quả trên hai chân. Thế nhưng cùng lúc, các bào thai trong bụng lại tiến hóa để có cái đầu to hơn, khiến việc chui qua xương chậu hẹp để vào đời ngày càng trở nên chật chội, khó khăn hơn.

Việc sinh con trở nên vô cùng đau đớn và thậm chí có thể gây tử vong, và điều đó vẫn được duy trì cho đến ngày nay.

Bản quyền hình ảnh P. Plailly/E. Daynes/Science Photo Library
Image caption Tông hominin

Tuy nhiên, gần đây, các khoa học gia đã đưa ra có một cách giải thích mới.

Các phụ nữ mang thai phải làm quen với việc nuôi dưỡng bào thai cho tới khi chúng trở nên quá lớn, cơ thể người mẹ không còn đủ sức đáp ứng nữa. Xương chậu ở người phụ nữ đã thích nghi để đạt kích thước phù hợp, cho phép bào thai được nuôi dưỡng tốt nhất mà vẫn có thể đi qua an toàn để chào đời. Và các thay đổi trong chế độ ăn uống trong vài ngàn năm qua đã gây khó cho sự cân bằng này, khiến cho việc sinh con trở nên nguy hiểm, nhất là cho những thai phụ nào không được ăn uống đầy đủ.

Mối liên hệ giữa xương sọ và xương chậu

Tuy nhiên, Holly Dunsworth từ Đại học Rhode Island, Kingston, nói có lẽ đó vẫn chưa phải là cái kết của câu chuyện.

'Đời sống ái ân' kỳ quặc ở loài rắn

Ếch cỏ: người cha vĩ đại trong thế giới tự nhiên

Vì sao có những con vật lao đầu tìm cái chết?

Thuyết của Washburn có vẻ là hợp lý trong hàng chục năm, cho tới khi Dunsworth và những người khác bắt đầu phân tích chúng kỹ càng hơn.

Bản quyền hình ảnh Visuals Unlimited/naturepl.com
Image caption Xương chậu ở người: của nam giới (trái) và phụ nữ (phải)

Vào 2015, Barbara Fischer từ Viện Nghiên cứu Tiến hóa và Nhận thức Konrad Lorenz tại Klosterneuburg, Áo, và Philipp Mitteroecker từ Đại học Vienna, Áo, đưa ra một cách nhìn khác về xương chậu của người phụ nữ.

Khi chuồn chuồn săn ếch và nhện ăn chuột

Khi mùi xác thối bay khắp không trung

Khi chuột không còn biết sợ mèo

Có vẻ như thuyết của Dunsworth bổ trợ cho các ý tưởng của Washburn thay vì bác bỏ chúng hoàn toàn. Dunsworth cũng đồng ý như vậy; bà cho rằng có nhiều yếu tố liên quan tới quá trình tiến hóa trong việc sinh nở ở con người hiện đại.

Fischer và Mitteroecker tìm hiểu xem liệu có phải có sự liên hệ nào giữa kích thước đầu với kích thước xương chậu ở người phụ nữ không.

Việc phân tích 99 bộ xương cho thấy không hề có mối liên hệ nào như thế. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng kích thước đầu và kích thước xương chậu ở người phụ nữ hẳn phải có liên hệ tới gene.

"Điều đó không có nghĩa rằng [những khó khăn khi sinh con] đã được giải đáp," Fischer nói. Nhưng vấn đề có thể còn tồi hơn nữa nếu như không có mối liên hệ nào giữa kích cỡ đầu và độ rộng của xương chậu.

Cơ thể thay đổi theo độ tuổi

Và còn có một vấn đề phức tạp khác nữa: cơ thể người phụ nữ thay đổi khi họ già đi.

Một nghiên cứu hồi tháng 5/2016 do Marcia Ponce de León và Christoph Zollikofer từ Đại học Zurich, Thụy Sỹ, đã phân tích các dữ liệu về xương chậu ở 275 người, gồm cả phụ nữ và nam giới, ở các lứa tuổi khác nhau.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng xương chậu thay đổi kích thước trong cuộc đời phụ nữ.

Các dữ liệu của họ cho thấy xương chậu ở người phụ nữ có hình dạng phù hợp nhất cho việc sinh con vào những năm gần 20 tuổi, là lúc khả năng sinh sản đạt mức tốt nhất.

Hình dạng đó được giữ cho tới khoảng thời điểm họ 40 tuổi, rồi bắt đầu từ từ thay đổi theo hướng kém thuận lợi hơn, chuẩn bị sẵn sàng để chuyển sang giai đoạn mãn kinh.

Các khoa học gia cho rằng những thay đổi này khiến việc sinh con trở nên dễ dàng hơn. Họ gọi ý đây là "những khó khăn phát sinh trong quá trình sinh nở" (developmental obstetric dilemma - DOD).

"Thuyết DOD đưa ra cách giải thích về quá trình phát triển, biến đổi hình dạng khác nhau của xương chậu," Ponce de León nói.

Mổ đẻ trong thời hiện đại

Nếu như tất cả các áp lực tiến hóa này đều nhằm phục vụ cho việc sinh nở, thì liệu có còn tiếp tục diễn ra việc thay đổi, tiến hóa tại thời điểm này nữa không?

Tên tuổi Mitteroecker đã xuất hiện trên các hàng tin chính với nghiên cứu lý thuyết đối với vấn đề này.

Bản quyền hình ảnh Alamy
Image caption Fischer và Mitteroecker cho rằng trong các xã hội áp dụng phổ biến hình thức mổ đẻ thì các bào thai có thể phát triển to quá cỡ mà vẫn có cơ hội chào đời an toàn

Các nghiên cứu trước đây cho thấy các trẻ sơ sinh to lớn thường có cơ hội sống cao hơn, và kích cỡ lúc chào đời là đặc tính có thể thừa kế.

Kết hợp các yếu tố này với nhau, chúng có thể dẫn đến việc các bào thai trung bình ở người sẽ phát triển theo mức tối đa mà xương chậu người phụ nữ có thể chịu được, kể cả khi điều đó có thể gây chết người.

Nhưng nhiều trẻ sơ sinh ngày nay chào đời nhờ biện pháp mổ đẻ Caesarean mà không cần phải đi qua ống dẫn sinh trong bụng mẹ.

Fischer và Mitteroecker cho rằng trong các xã hội áp dụng phổ biến hình thức mổ đẻ thì các bào thai có thể phát triển to quá cỡ mà vẫn có cơ hội chào đời an toàn.

Về lý thuyết, thì hậu quả là số phụ nữ sinh con lớn quá cỡ, không chui lọt qua ống dẫn sinh của mẹ có thể đã tăng 10-20% chỉ trong vài thập niên qua, ít nhất là tại một số nơi trên thế giới.

Nói một cách trần trụi hơn, là trong các xã hội đó, con người đang tiến hóa theo hướng sinh ra những đứa trẻ sơ sinh to lớn hơn.

Vào lúc này, đây mới chỉ là ý tưởng về mặt lý thuyết và không có bằng chứng rõ rệt nào cho thấy đây là điều đang xảy ra. Tuy nhiên, đó là điều đáng suy nghĩ.

"Tất cả chúng ta đều chào đời bằng cách hoặc là đi qua xương chậu, hoặc là không," Wells nói. "Nếu chúng ta đi qua, thì xương chậu có vai trò quan trọng. Nếu chúng ta không đi qua, thì bản thân xương chậu là vấn đề thú vị để xem xét."

Trong quá trình tiến hóa của việc sinh nở ở loài người, các hài nhi đã buộc phải kiềm chế kích cỡ để có thể chui lọt ống dẫn sinh của thai phụ.

Nhưng có lẽ ít nhất thì với một số trẻ sơ sinh thời nay, điều đó đã không còn đúng nữa.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Earth.

Xem thêm:

Điều gì khiến người mẹ phải 'mang nặng, đẻ đau'?

Ba chuyện không tưởng khi mang thai

Tin liên quan