New York hiện đại thừa hưởng những gì từ di dân Hà Lan

felixmizioznikov Bản quyền hình ảnh felixmizioznikov

Hồi con cái còn đang ở tuổi đi mẫu giáo ở Hackensack, New Jersey, Tim Adriance - nhà phục chế kiến trúc kiêm sử gia đã dạy các con một bài hát thiếu nhi đơn giản.

Mặc dù có cái tên bằng tiếng Hà Lan - Trip a Trop a Tronjes ("Đầu Gối Cha Là Ngai Vàng") - nhưng bài hát này cũng có thể được hát bằng tiếng Anh, giúp cho bọn nhóc dễ thuộc.

Nước Mỹ sẽ thế nào nếu California ly khai?

Mảnh đất Mỹ vĩnh viễn thuộc về Anh

Thị trấn Alaska nơi tiền mọc trên cây

Adriance nhớ là chả mấy chốc, cả lớp học của con ông, chủ yếu gồm các bé trai, bé gái người Philippines và người Mỹ gốc Phi, đã hào hứng hát chung.

Sẽ là không có gì đặc biệt trong chuyện này, trừ phi bạn biết nguồn gốc của bài hát.

Đáng chú ý, Trip a Trop a Tronjes lần đầu tiên được hát trên bờ biển nước Mỹ thời thập niên 1600, trước khi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ ra đời, khi những người định cư Hà Lan lập ra thành phố New Amsterdam - chính là thành phố New York ngày nay - và xây dựng các trang trại ở vùng nông thôn xung quanh.

Hàng thế kỷ sau, bài hát đã lưu giữ qua thế hệ của Tim Adriance và những người Mỹ gốc Hà Lan như ông, để rồi được truyền lại cho những đứa trẻ nhập cư đến New Jersey.

Đây là một phần của một câu chuyện lớn hơn nhiều, chủ yếu vẫn chưa được khám phá.

New Amsterdam đã được đổi tên từ nhiều thế kỷ trước, và những ngọn đồi, những bụi cây rậm rạp nơi đây từng được gọi là New Netherland - thuộc địa của Hà Lan trong một giai đoạn ngắn ngủi hồi Thế kỷ 17 tại Bắc Mỹ - nay nằm trải dài trên các tiểu bang New York, New Jersey, Delaware và Connecticut của Mỹ.

Nhưng cũng giống như sức sống của bài hát dành cho trẻ nhỏ ở Hackensack, Trip a Trop a Tronjesin, ảnh hưởng của người Hà Lan xưa vẫn còn vang vọng trong đời sống Mỹ đương đại.

Điều này hoàn toàn đúng ở nơi mà người Hà Lan từng coi như quê nhà của họ: kiến trúc, ngôn ngữ và văn hóa của New Netherland ảnh hưởng đến New York ngày nay, dẫu cho đa phần cư dân thời nay hầu như không biết gì nhiều về lịch sử của mảnh đất nơi họ đang sống.

Học kinh doanh

Làm nên vùng New Netherland là cả một chặng đường dài. Người Hà Lan bắt đầu buôn bán dọc theo Sông Hudson từ năm 1611, và thành lập Fort Amsterdam ở mũi cực nam của đảo Manhattan vào năm 1625.

Bốn thập kỷ sau, New Amsterdam, thủ phủ của New Netherland, đã phát triển thành một bến cảng sông sầm uất với 1.500 cư dân.

Người Hà Lan không phải là những người châu Âu duy nhất có mặt ở đây. Năm 1630, người Anh đã bắt đầu thiết lập những cảng tiền đồn của họ ở phía bắc. Nhưng Boston (thuộc bang Massachusetts) và New Amsterdam là những thị trấn rất khác biệt.

Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Người Hà Lan buôn bán dọc theo Sông Hudson và lập ra cảng Fort Amsterdam vào năm 1625 - rất lâu trước khi người Anh xuất hiện

"Trong thời thập niên 1650, người Anh vẫn treo cổ những người Quaker ở Boston," Charles Gehring, chuyên gia về người Mỹ gốc Hà Lan và là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu New Netherland có trụ sở tại Albany, nói. "Người Hà Lan không bao giờ treo cổ bất cứ ai vì niềm tin tôn giáo của họ. Bạn có thể theo bất kỳ đức tin nào."

'Tấc đất cắm dùi' giữa lòng New York

Kỳ quan địa chất siêu thực ít người biết đến ở Mỹ

Nơi phải dựa vào đoàn la thồ hàng giữa lòng nước Mỹ

Chẳng hạn, mục sư Johannes Megapolensis người Hà Lan mô tả trong một lá thư viết hồi tháng 3/1655 rằng ông nhìn thấy "những người theo giáo hội Công giáo La Mã, giáo hội Mennonite và giáo hội Luther" khi đó ung dung dạo phố ở New Amsterdam, trong lúc những người châu Âu khác ở bờ bên kia của Đại Tây Dương thì đang có những cuộc chiến tôn giáo tàn khốc.

Tinh thần khoan dung của các di dân Hà Lan đã một phần được mang theo từ nơi quê nhà: Hà Lan trong Thế kỷ 17 là vùng đất của tự do tôn giáo và là nơi tị nạn hàng đầu cho các nhóm tôn giáo thiểu số.

Tinh thần khoan dung cũng mang lại những lợi ích thiết thực. Không giống như những người theo Thanh giáo hay Tin Lành khổ hạnh từ Anh đến, những người đã lập thành phố Boston như một xã hội không tưởng về tôn giáo, người Hà Lan có những mối quan tâm thực tế hơn, và họ khuyến khích những ai muốn kiếm tiền thì hãy tham gia vào cuộc chiến cạnh tranh ở New Amsterdam.

"[New Amsterdam] là nơi tương đối cởi mở với vấn đề tôn giáo, hết sức đề cao sự đa dạng, miễn là mọi người cùng đóng góp cho xã hội và giao thương," Sophie van Doornmalen, tuỳ viên văn hóa cao cấp tại Lãnh sự quán Hà Lan ở Manhattan, giải thích.

Bạn chỉ cần đến khám phá một khu vực New York đương đại như Jackson Heights - nơi sinh sống của khoảng 110.000 người nhưng sử dụng tới hơn 160 ngôn ngữ, nơi các quán ăn đậm gia vị cà-ri bản địa được xen kẽ với các nhà hàng kiểu Nam Mỹ - là thấy được những ý tưởng kinh doanh đã cùng nhau tiếp tục định hình nên thành phố này như thế nào.

'Knickerbocker' ở New York

Tất nhiên là về mặt chính trị, thái độ cởi mở của Hà Lan đã không tồn tại được lâu.

Người Anh lần đầu tiên chiếm New Amsterdam là vào năm 1664, và một thập kỷ sau đã vĩnh viễn chiếm toàn bộ New Netherland.

Đến thời điểm Cách mạng Mỹ, khởi đầu vào năm 1776, thì vùng đất Mỹ mang dáng dấp Hà Lan đã biến mất.

Tuy nhiên, dấu ấn đáng chú ý của việc định cư của họ vẫn còn tồn tại, thường là ở những nơi đáng ngạc nhiên nhất.

Bản quyền hình ảnh Alamy
Image caption Nằm cạnh các cửa hàng Trung Quốc, ngôi nhà mang tên Onderdonk House của New York có từ năm 1660, do người Hà Lan xây dựng

Đi xuôi xuống đường Flushing Avenue nằm ở ranh giới Brooklyn-Queens, bạn sẽ có cảm giác khung cảnh nhếch nhác nơi đây thật quen thuộc.

Nhà kho, cửa hàng cơ khí san sát cạnh nhau, và những chiếc xe tải sàn phẳng nặng nề chạy ngang qua. Nhưng ngay khi bạn rẽ phải vào phố Onderdonk Avenue là bạn đã bước ra khỏi New York và đi vào vùng đất lịch sử.

Ở góc phố, bên cạnh một chuỗi các cửa hàng bán buôn của Trung Quốc là một ngôi nhà trang trại hoàn hảo đúng phong cách Hà Lan.

Cửa sổ nằm ngay sát bên dưới mái nhà xây theo kiểu hai tầng dốc mái, với phần mái trên nghiêng nhẹ còn phần mái dưới dốc lớn. Leo lên đến ngọn đồi trong vườn, từ đó bạn có thể nhìn thấy những tòa nhà chọc trời: Manhattan chỉ cách đây có vài dặm.

Ngôi nhà Onderdonk House này được xây dựng vào năm 1709, sau khi người Anh đến, (và được phục chế sau vụ hỏa hoạn năm 1975) nhưng nền móng của nó thì có từ năm 1660.

Xét theo mọi khía cạnh, phần lớn ngôi nhà là nguyên gốc lịch sử để lại, Linda Monte, một trong những người quản lý ngôi nhà cho biết. Cô chỉ vào những cánh cửa điển hình kiểu Hà Lan, chỉ khóa từ bên trong, rồi bước ra ngoài chiêm ngưỡng những bức tường trắng to đẹp.

"Hầu hết các ngôi nhà kiểu Hà Lan đều được xây cất bằng gỗ," cô giải thích. Nhưng toà nhà Onderdonk House thì lại được làm bằng đá, và có lẽ đó là lý do khiến tồn tại được lâu đến vậy.

Những trang trại như Onderdonk nằm rải rác ở Brooklyn và Queens, nhắc nhở về một thời trước khi có các cửa hàng cơ khí và trước khi New York ra đời.

Chúng không hề tồn tại một cách lẻ loi. Rốt cuộc, khi khám phá các đường phố của vùng Hạ Manhattan là bạn đang lang thang trong một kiểu quy hoạch đường phố vốn có thể dễ dàng được bất kỳ người dân New Amsterdam tự tôn nào nhận ra.

(Bạn có thể tự mình kiểm tra bản gốc, tại Peter Minuit Plaza ngay gần bến phà đi sang chỗ đặt bức tượng Nữ thần Tự do, nơi có một tác phẩm điêu khắc bằng đồng gọi là "Castello Plan" thể hiện bản đồ quy hoạch đường phố ở New Amsterdam vào năm 1660 đứng kiêu hãnh bên mặt nước).

Không chỉ quy hoạch đường phố mới là tất cả những gì còn lại của New Amsterdam. Pearl Street ngày nay đã từng được đặt tên là 'Paerlstraat', theo tiếng Hà Lan là chỉ nơi có những con hàu, con trai sinh sống trong cảng. Tên gọi của phố Beaver Street cho thấy tầm quan trọng của ngành thuộc da, lông thú ở vùng thuộc địa Hà Lan này.

Đi về phía số nhà 85 phố Broad Street, bạn sẽ nhận thấy ở bên ngoài của một tòa nhà được đánh dấu bằng đường viền gạch màu vàng trên vỉa hè. Đó là Stadt Huys, toà nhà ban đầu được xây để làm quán rượu, nhưng cuối cùng lại trở thành toà thị chính đầu tiên của New Amsterdam. (Vào lúc hoàng kim, khu nhà nhỏ gọn này từng kiêu hãnh là nơi đặt 17 quán rượu.)

Đồng thời, nhiều tòa nhà hiện đại ở New York được ra đời là nhờ vào những người định cư Hà Lan, những người đã kết hợp kiến trúc châu Âu của mình với vật liệu của địa phương.

Kết quả là nơi này có phong cách kiến trúc nay được gọi là "kiểu thuộc địa Hà Lan", là một trong "ba hình thức kiến trúc bản xứ ở Mỹ," theo lời của Adriance (hai hình thức còn lại là nhà cao chọc trời và nhà trang trại).

Và mặc dù các tòa nhà kiểu thuộc địa Hà Lan bây giờ có thể được tìm thấy trên khắp Hoa Kỳ, nhưng phong cách này phổ biến hơn cả tại nơi những người Hà Lan tới thiết lập thuộc địa đầu tiên của họ.

Chẳng hạn như khi ghé thăm vùng Rockaway hoặc Lindenwood, ngoại ô của Queens, bạn sẽ thấy những dãy nhà to đẹp kiểu Hà Lan từ đầu Thế kỷ 20, kiểu mái nhà hai tầng dốc mái cực kỳ đặc sắc, giống như toà Onderdonk House vậy.

New Amsterdam có ảnh hưởng to lớn tương tự đối với các địa danh ở New York.

Các địa danh mang tính biểu tượng - Brooklyn (Breukelen), Harlem (Haarlem), Phố Wall (Waal Straat) - đều có nguồn gốc từ Hà Lan thuộc địa.

Những cái tên vay mượn ít nổi danh hơn cũng có nguồn cội tương tự. Bowery, con phố sầm uất ở New York với đầy những quán bar, từng có tên là "bouwerij" (nghĩa là nông trại) trong thời New Amsterdam vì có các cánh đồng cỏ gần đó.

Nếu như khu vui chơi giải trí tại Coney Island mà được xây vào năm 1650, thì có thể nó sẽ là nơi có đầy thỏ hoang sinh sống: "conyne" là từ mà người Hà Lan tới đây định cư dùng để chỉ bọn thỏ hoang.

Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Phố Wall được đặt tên như vậy bởi đó là nơi các di dân Hà Lan đã dựng một bức tường bằng gỗ nhằm ngăn, không cho người Anh tiến vào

New Netherland cũng ảnh hưởng đáng kể tới ngôn ngữ Anh-Mỹ. Nếu bạn đã từng ngồi dưới mái hiên - stoop ('stoep' trong tiếng Hà Lan), tiêu một đô la ('daalder'), chờ ông già Noel Santa Clause ('Sinterklaas') hoặc ăn bánh cookie ('koekje'), thì bạn đã sử dụng từ ngữ được vay mượn từ những người Hà Lan đầu tiên tới đây.

Ký ức ngôn ngữ được lưu giữ đặc biệt tốt ở vùng Hudson, nơi các gia đình nông dân Hà Lan sử dụng thứ ngôn ngữ "Amerikaans", tương tự như thứ tiếng Afrikaan ở Tân Thế Giới, thứ ngôn ngữ được phát triển từ tiếng Hà Lan hồi Thế kỷ 17 mà đến tận thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng ở Nam Phi.

Là người gốc Đức lai Ý nhưng Gehring vẫn nhớ lõm bõm được những từ vựng tiếng Hà Lan của mình dù cho ông chỉ dùng nó trong thời thập niên 1940, do ông lớn lên ở vùng bắc New York.

"Hồi đó chúng tôi hay chơi bi," ông nhớ lại, "và chúng tôi gọi bi ve là 'knickers' vì những người làm ra những viên bi này là những 'knickerbockers' - người [Hà Lan] sống ở New York."

Những dị bản nghĩa gốc của từ 'knickerbockers' có khi còn xuất phát từ chi tiết trên thực tế người Hà Lan ở đây thường xắn quần của họ lên tận đầu gối khi làm việc.

Song bất kể nguồn gốc của nó như thế nào, thì từ này đã được sử dụng khá lâu đời ở New York.

Chẳng hạn như đi xem đội New York Knicks thi đấu bóng rổ, hoặc ghé vào khách sạn Knickerbocker thanh lịch để uống vài ly, và bạn có thể thưởng thức sự thú vị khi tìm hiểu nguồn gốc đặt tên các tổ chức (bằng cách này hay cách khác) sau khi người Hà Lan di cư đến New York hoặc có nguồn gốc từ tiếng Hà Lan.

Có một số từ ngữ khác của Hà Lan ít nổi tiếng hơn nhưng vẫn khiến Gehring bật cười. Ví dụ, ông nhớ rằng ông từng khiến một người bạn ở Tây Virginia bối rối hiểu lầm khi cảnh báo về một "winklehawk" trên chiếc quần bò của anh bạn.

"Cậu ấy nghĩ là có một con bọ thật đang bám trên quần và bắt đầu giậm chân để hất nó ra," Gehring cười rũ. Người bạn thực ra đâu cần lo lắng: 'winklehawk chỉ là chơi chữ để chỉ một vết rách trên quần mà thôi.

"Nếu bạn không phải là người Hà Lan thì bạn chẳng là gì"

Đại đa số người Mỹ tổ chức mừng Lễ Tạ ơn, nhớ đến những người định cư Thanh giáo đầu tiên đến New England (Lễ Tạ ơn theo truyền thống được cho là làm theo một ngày lễ có từ năm 1621).

Ngày Di Sản Hà Lan Ở Mỹ là ngày 16/11 hàng năm, nhưng ngày này không được tổ chức rầm rộ như Lễ Tạ ơn.

Bản thân sự khác biệt này đã nói lên vấn đề: người Thanh giáo và những câu chuyện của họ đã làm thiên hạ cảm động, ít nhất là kể từ khi Lễ Tạ ơn trở thành ngày lễ toàn quốc, từ hồi Thế kỷ 19, nhưng người Mỹ gốc Hà Lan thì hầu như bị lãng quên.

Bản quyền hình ảnh felixmizioznikov

Với Gehring, người đã dành cả đời để nghiên cứu New Amsterdam và di sản của nó, đây chính là kết quả của cuộc chinh phạt năm 1664.

"Người Anh không bao giờ thực sự cho phép người Hà Lan có tiếng nói," ông nói, trích dẫn câu nói của nhà văn Mỹ Washington Irving và tác phẩm trào phúng mà ông viết năm 1809, Lịch sử New York (A History of New York) như một ví dụ về cách những người nói tiếng Anh luôn coi nhẹ người Hà Lan.

Trong một thời gian dài, "người Hà Lan bị coi như trò hề ở Tân Thế giới," Gehring nói thêm.

Điển hình là miêu tả của Irving về "đám tiểu nông người Hà Lan" ("Dutch yeomanry"), những người bị cho là hút thuốc nhiều đến mức trở thành một "chủng tộc hút thuốc như ống bễ di động, phun khói mịt mù, da dẻ thâm sì".

Những thái độ tương tự còn đưa cả vào thành ngữ tiếng Anh Mỹ nhằm hạ thấp người Hà Lan. Chẳng hạn như "nói kiểu Hà Lan" ("to talk Dutch") từng có nghĩa là "nói năng huyên thuyên", còn "phân chia kiểu Hà Lan" cho đến ngày nay vẫn có ngụ ý là đồ bủn xỉn.

Là người Mỹ gốc Hà Lan thế hệ thứ 11, Adriance cũng cho rằng việc New Amsterdam bị xóa sổ sớm đã làm tổn hại tới di sản mà người Hà Lan để lại, nhưng cũng tự hỏi liệu có phải chính sự rụt rè của những người theo phái Cải cách Calvin có phải là một yếu tố khiến cho những thành tựu người Hà Lan đạt được bị coi nhẹ.

"Chúng tôi chỉ lặng lẽ sống cuộc đời của mình bên gia đình, và thỉnh thoảng, chúng tôi mới lên tiếng chút chút để mọi người nhớ đến mình. Song thực sự thì chúng tôi không thích có các kiểu hoạt động như lễ diễu hành trong Ngày Thánh Patrick," ông nói.

Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Người Hà Lan tới định cư ở mũi phía nam của Manhattan, nơi hiện là khu Quận Tài chính

Lẽ ra họ nên thích. Những điều thú vị như vết rách trên quần (winklehawks) và mái nhà với hai tầng dốc mái đặc trưng của New Amsterdam vẫn ảnh hưởng tới Big Apple hiện thời, di sản của người Hà Lan xưa kia được cho là sẽ vẫn tiếp tục ảnh hưởng theo những cách thậm chí còn căn bản hơn.

"Thuộc địa New Netherland được thành lập trên tinh thần giao thương và chào đón tất cả mọi người tham gia," van Domalmalen nói. "Tôi cho rằng điều đó đã khiến cho New York City ngày nay trở nên đặc biệt."

Adriance đồng ý, và cho rằng "quan điểm của người Mỹ có thể sống cùng những người khác chủng tộc" bắt nguồn từ những người Hà Lan đầu tiên tới định cư, mang theo tinh thần khoan dung.

Ông chắc chắn một điều: New York về sau đã đóng vai trò là cửa ngõ cho vô số người nhập cư đến từ châu Âu, những người trước khi "Tây tiến" đã thấm nhuần những giá trị tự do này.

Mặc dù Hà Lan hiện nay vẫn có vua, nhưng Gehring vẫn cho rằng Cộng hòa Hà Lan từ Thế kỷ 17 có thể lý giải vì sao New York thời hiện đại nổi danh là nơi bất cứ ai cũng có thể có cơ hội làm giàu.

"Cấu trúc giai tầng xã hội vốn đã định hình ở Anh và Pháp - nơi mà ngay từ lúc mới chào đời bạn đã thuộc một giai cấp nào đó, và điều đó không thay đổi cho tới khi bạn chết đi - khiến cho việc thăng tiến trong xã hội là vô cùng hiếm hoi," ông nói, và giải thích rằng chính vì người Hà Lan không duy trì cấu trúc phân tầng xã hội, cho nên những người tới định cư ở New Amsterdam đã bắt đầu với một sân chơi thậm chí còn phóng khoáng bình đẳng hơn, điều mà người dân New York luôn tự hào.

Vậy có phải là ta có thể liên hệ trực tiếp New Amsterdam tới Tuyên ngôn Nhân quyền của Hoa Kỳ?

Có lẽ là không.

Nhưng từ văn hóa, chính trị, ngôn ngữ cho đến kiến trúc, đặc tính Hà Lan ở New York đã bị loại bỏ một cách không công bằng khỏi câu chuyện lịch sử của đất nước.

Điều đó đang thay đổi. Van Doornmalen và các đồng nghiệp của bà tại Lãnh sự quán Hà Lan nay đang cấp học bổng hỗ trợ cho các chương trình giáo dục về vùng New Netherland, và tài trợ một cuốn sách về các mối liên quan giữa thuộc địa Hà Lan với chế độ nô lệ.

Các tổ chức khác cũng đang quan tâm đến phần lịch sử này. Vào năm 2016, Bảo tàng Thành phố New York đã khai mạc triển lãm thường xuyên đầu tiên về sự phát triển của thành phố.

Về phần mình, Gehring đã dành nhiều thập kỷ miệt mài dịch hàng ngàn tài liệu về vùng thuộc địa Hà Lan sang tiếng Anh.

Dự án New Netherland của ông, một kế hoạch nghiên cứu lớn về vùng thuộc địa Hà Lan ở Mỹ, liên kết với Trung tâm nghiên cứu New Netherland, cho đến nay đã tìm hiểu 7.000 trang tài liệu và thu hút rất nhiều quan tâm.

"Khi chúng tôi làm các thứ liên quan đến người Hà Lan, mọi người kéo đến rất đông," Gehring nói. "Họ muốn biết rõ, vì họ đã bị từ chối thông tin này trong nhiều năm - những thông tin về người đó là tất cả những gì về những người hành hương, người Thanh giáo, về New England."

Đó là tin tốt lành. Người New York chưa nhuộm cam màu sông Hudson (màu biểu tượng của Hà Lan), nhưng có lẽ nhiều người bắt đầu đánh giá cao ảnh hưởng to lớn của những người Hà Lan đầu tiên tới đây đối với thành phố New York.

Họ cũng chẳng cần phải học Trip a Trop a Tronjes mới hiểu được câu chuyện. Họ chỉ cần đến Tòa Thị chính và nhìn lên lá cờ.

Xanh, trắng và cam, đó là những màu sắc có trên tấm băng-rôn đầu tiên được chăng trên cảng Hà Lan ngày đó.

Cái tên New Amsterdam đã được thay, các tòa tháp bằng kính hiện đại nay đổ bóng xuống bến cảng cũ. Thế nhưng cho dù năm thế kỷ đã trôi qua, New Amsterdam vẫn còn đó.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Chủ đề liên quan

Tin liên quan