Sốt rét rừng - bài học gì cho Việt Nam ?

Tin về khả năng “kháng” Artersunate (dẫn suất từ Artemisinin) của kí sinh trùng sốt rét Tây Cambodia trên tạp chí Sciences (04-2008) đã làm “rung động” giới chuyên môn nghiên cứu và điều trị các bệnh nhiệt đới, gồm cả sốt rét.

Giới chuyên môn đều hiểu rằng, nếu các dòng kí sinh “kháng” thuốc này bị trôi dạt tới châu Phi, thì phức loài muỗi Anopheles gambiae bản địa sẽ biến chúng thành một “siêu vũ khí”, tiêu diệt nhân loại. Trước đó, ngành du lịch ở bất cứ quốc gia nào sẵn có muỗi truyền bệnh và có các dòng ký sinh trùng kháng thuốc lan tới sẽ có cơ sụp đổ.

Tuy vậy, có lẽ đây không phải là điều mới, chí ít là với Cambodia. Vấn đề chỉ phụ thuộc vào khi nào có chuyên gia và các điều kiện khách quan cho phép các dự án nghiên cứu tiến hành và công bố. Hiện thực này có vẻ nghiệm đúng cho nhiều quốc gia đang phát triển.

Sốt rét kháng thuốc - thất bại trong giảm đói nghèo và quản lý dược phẩm

Giữa những ngày này mười năm trước, tôi rời Phnôm Pênh trên chiếc Toyota gầm cao, cắm cờ WHO để tránh công an “xin đểu”, mất 5 tiếng là tới thủ phủ Battambang, nhưng cũng mất chừng ấy thời gian để vượt qua con đường khoảng 50km tới vùng dịch ở mé tây của Battambang.

Vùng dịch này bắt đầu từ Ta Trok kéo dài gần 20km tới tận vùng mỏ đá Pailin, sào huyệt trước đây của tàn quân Khmer-rouge, sát biên giới Thái Lan. Trong vài chục km cuối cùng tới Ta Trok hai bên lề đường là bãi mìn dày đặc chưa gỡ, con đường giống như chuỗi “hố bom” liên tiếp.

Từ Phnôm Pênh, nhiều bác sĩ và kỹ thuật viên trung tâm phòng chống sốt rét Campuchia từ chối đi cùng tôi, họ sợ dính sốt rét sẽ chết như “bỡn” vì uống thuốc “không khỏi”. Cuối cùng Tho Sochantha, phó giám đốc đưa tôi đi. “Thằng bạn học” ở Anh này còn cẩn thận dặn tôi, đừng có nói mày là người Việt, chỉ nói là người của WHO. Dân đây nó ghét Việt cộng lắm.

Đời sống dân Ta Trok còn rất đói khổ và lạc hậu. Họ sống bằng chăn bò, kéo xe thuê, làm rẫy và chặt rừng. Bữa ăn của người dân chỉ có cơm và rau rừng, phiên chợ tuần, nếu có tiền họ cải thiện bằng vài con cá basa kẹp que phơi khô. Sáng ra có thể gặp mặt “cả làng” ngồi xổm ở rìa ngoài vì ai chẳng cần đi vệ sinh, nhưng cũng ngại đi xa vì nhiều mìn.

Chết vì sốt rét ở Ta Trok có vẻ là chuyện rất thường. Xóm ngoài Ta Trok chỉ khoảng 40 đến 50 nóc nhà mà hai năm trước đó đều chết 5-7 người, một chị người gốc Việt, lưu lạc lấy chồng ở Ta Trok bảo tôi vậy.

Thu nhập của dân Ta Trok lúc đó khoảng 10-12.000 vnđ/ngày nhưng giá cả sinh hoạt ở Campuchia đắt hơn Việt Nam. Chi phí cho ăn, mặc đã quá thiếu thốn, nói chi tới thuốc men khi ốm đau. Phỏng vấn dân Ta Trok về tình hình uống thuốc khi bị sốt rét, họ đều nói mua ở chợ.

Kinh hoàng là nhiều trường hợp chỉ mua viên một vì không đủ tiền. Một viên, sốt giảm hôm sau lại lên rừng, đi nương và không uống nữa. Căn nguyên đẩy nhanh tính kháng thuốc nằm chính ở đó. Lúc đó Artesunate “Tầu” đã bán đầy ngoài chợ. Một người dân nói “tôi uống đỡ ngay, nhưng mấy hôm sau sốt lại”. Tôi rùng mình, tai họa đã tới hoặc tới rất gần rồi!

Tuy nhiên chỉ cần trấn tĩnh lại, sẽ thấy vấn đề là nằm ngoài tầm với của những nhà khoa học. Cái gốc ở đây là sự nghèo đói cùng quẫn của người dân và sự thất bại trong các chính sách y tế cộng đồng và quản lý dược phẩm của chính quyền. Kiếm ăn từng bữa, ai bắt được dân mua thuốc đủ liều ? Sốt rét thường đem tới bởi dân vãng lai, nhưng vãng lai lấy đâu ra tiêu chuẩn thuốc khi ngay cả dân có “hộ tịch” còn phải ra chợ đen !

Lan đến Việt Nam ?

Trong hệ thống Y tế Việt Nam, mảng phòng chống sốt rét có truyền thống tốt đẹp từ thời GS. Đặng Văn Ngữ. Trong thập kỷ qua, đội ngũ này đã được trang bị nhiều hơn và đạt một số thành tựu nhất định.

Tuy nhiên thông tin “kháng thuốc” ở Battambang ngay lập tức đặt Việt Nam vào vị trí “báo động” vì ngoài tính liên tục địa giới thì tất cả những vectơ truyền sốt rét ở Battambang đều có mặt ở Việt Nam (đã và chưa công bố).

Nguy hiểm hơn nữa, ở những vùng cùng cực của Việt nam, như Bùi Gia Mập, Đắc U, Đắc ơ (Phước Long), Tánh Linh (Bình Thuận), Khánh Vĩnh (Khánh Hoà), A là bá, Đức Cơ (Gia Lai), Khe Bu, Khe Chàm, Tương Dương, Con Cu ông (Nghệ an), Huổi Ọi (Sơn La), Văn Yên, Lục Yên (Yên Bái), Thạch An (Cao Bằng) cũng như nhiều khu vực liền kề với tỉnh Rantanakiri (Cambodia)… là những nơi có nhiều khía cạnh xã hội tương tự như Ta Trok, Battambang. Nhiều nơi, chế độ dinh dưỡng, thu nhập của người dân còn kém hơn so với Ta Trok, đây là điều cần quan tâm ngay lập tức, đặc biệt khi khủng hoảng kinh tế đang “tàn phá” nông thôn và vùng cao.

Hệ thống y tế Việt Nam vì thế cần chuẩn bị đối phó với sự lan truyền các dòng kháng từ Campuchia đến, đồng thời cần rà soát, thử những phác đồ điều trị mới với những dấu hiệu kháng Artesunate từ chính Việt Nam.

Image caption Sốt rét vẫn có thể đe dọa nhiều vùng ở Việt Nam

Trong những năm tới đây, sự lan truyền của những dòng kháng Artesunate trong lúc chưa có dược phẩm công hiệu thay thế, cùng với miễn thị thực quá cảnh dọc theo biên giới Việt-Lào-Campuchia-Trung Quốc, khi nhiều vùng rừng được phủ xanh trở lại, sự mở rộng du lịch sinh thái và lữ hành, sự di chuyển tự do hơn của thợ xẻ, thợ săn, công nhân lâm nghiệp và thuỷ điện, phu đào vàng và đá quý, khai thác lâm sản, buôn lậu xuyên biên, các nhóm cướp sản phẩm nông, lâm nghiệp lẩn khuất trong rừng… sẽ đặt ra cho công tác phòng chống sốt rét những thách thức chưa thể lường hết và không nên xem thường.

Khi chưa có thuốc hữu hiệu mới thay thế mà các dòng kí sinh kháng thuốc lan rộng thì tình trạng sẽ phần nào đó tương tự như thời tiền kháng chiến không có đủ Quinine, đặc biệt khi muỗi cũng tránh hoặc kháng thuốc.

Trong tình thế hiện tại, hai biện pháp cần cố gắng cao nhất có thể là công tác phòng trừ muỗi và kiểm tra y tế khách vãng lai, đặc biệt có nguồn gốc Campuchia. Làm được hiệu quả sẽ hạn chế đáng kể tác động của các dòng kí sinh kháng thốc.

Ngành Y tế Việt Nam cần chủ động liên hệ với các trung tâm thử nghiệm Vaccine sốt rét quốc tế, xin được tự nguyện thử nghiệm trên một số vùng dịch của Việt Nam, nếu các vaccine sau này thành công, thông qua hỗ trợ của WHO có thể mua bản quyền hạn chế, sản xuất đủ cho Việt Nam.

Sốt rét kháng thuốc lan tới sẽ làm tăng bội phần những khó khăn cho y tế địa phương, đặc biệt đối những bệnh nhân lao, HIV, đái tháo đường, suy thận, viêm gan, sưng lách…nhiễm sốt rét biến chứng sẽ vô cùng phức tạp và tỉ lệ tử vong sẽ cao hơn.

Từ Bắc xuống Nam

Từ “bài học Battambang”, nhìn rộng ra cả hệ thống quản lý dược phẩm của Việt Nam, cả xã hội như đang ngồi trên những “trái bom” chờ nổ. Số lượng những kháng sinh, biệt dược có nguồn gốc tự nhiên và tổng hợp được phát hiện mới trên thế giới giảm xuống theo từng thập kỷ. Riêng với kháng sinh, thế hệ kháng sinh mới nhất cần 38 năm để ra thị trường, thế hệ tiếp tới đây, tương lai cũng sẽ lâu như thế. Trong lúc đó, khả năng kháng thuốc của vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm… với từng loại kháng sinh, biệt dược đã và đang xẩy ra trong khoảng từ ba tháng tới hơn chục năm.

Tại Việt Nam, bất cứ ai cứ móc tiền ra là có thể mua được các loại kháng sinh và đem về tự “xài” theo cảm tính. Nhiều bác sĩ sẵn sàng kê đơn vô tội vạ cho những loại kháng sinh mạnh nhất, đắt tiền nhất cho chóng khỏi và lấy hoa hồng. Tỷ trọng kháng sinh chiếm tới 60% thuốc men của bệnh viện.

Vô số lang băm táng tận lương tâm mua biệt dược thậm chí độc dược về nghiền thành viên thuốc tễ để kê đơn như những “thần dược” gia truyền. Tất cả những hiện tượng lan tràn xã hội trên khác chi chúng ta đang cưa chính cành cây mà ta đang ngồi ?

Trước mắt chúng ta, vi khuẩn gây đa nhiễm trùng kháng thuốc đang lan rộng ở Việt nam (Staphylococcus), lao kháng thuốc tăng lên đáng sợ (Tuberculosis), thương hàn kháng thuốc (Salmonella), viêm phổi kháng thuốc (Pneumoccocus), rồi thì Pseudomonas aeruginose, Acinetobacter spp kháng…cũng đã được cảnh báo nhiều lần ở Việt Nam.

Đại dịch cúm đang tràn đến, nếu gặp viêm phổi kháng thuốc thì ai chắc điều gì sẽ xẩy ra ?

Chi phí chữa dứt điểm cho một ca lao đa kháng là 10.000 US$ cho phác đồ một năm, hầu hết thường dân Việt nam sẽ không chịu được chi phí này… Nhưng người Việt có câu “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ”, hy vọng rằng sự kiện sốt rét kháng thuốc là một câu chuyện đủ “gợi cảm” để những cá nhân, tập thể đang nắm quyền lực quản lý y tế và dược phẩm hình dung ra “chiếc quan tài” đang tiến lại gần mà thực thi những trách nhiệm pháp lí của họ trước khi quá muộn.

Dường như bất cứ một thảm họa xã hội nào, cũng bắt đầu từ những yếu tố phát xuất rất “bình thường”, nếu chúng ta cứ để nó phát triển, thảm họa sẽ đến như là một tất yếu. Điều này vừa nghiệm đúng với sốt rét ở Campuchia và chắc chắn nghiệm đúng với vô vàn các khía cạnh y tế, giáo dục, xã hội, môi trường và dân sinh khác tại Việt Nam.

Tin liên quan