‘Sai lầm nếu rơi vào ảnh hưởng Mỹ’

Cách đây gần một năm – tháng 11 năm 2008 – Học viện Ash thuộc trường John F. Kennedy – Đại học Harvard công bố bản báo cáo dài 11 trang phân tích nguồn gốc khủng hoảng giáo dục đại học Việt Nam và phản ứng từ các cấp nhà nước, người dân và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế.

Image caption GS. Neal Koblitz: 'Thường cái xấu nhất của Mỹ lại được xuất khẩu nhanh nhất'

Dựa trên kinh nghiệm của mình điều hành quản lý Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP. HCM, ông Thomas Vallely và Ben Wilkinson – hai vị đồng tác giả của bản báo cáo – đã chỉ ra những bất cập về thể chế điều hành quản lý của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và kết luận Việt Nam cần phải nhanh chóng cải cách thể chế bằng cách thành lập một trường đại học nghiên cứu mới, tham khảo mô hình của Hoa Kỳ.

Mới đây lại xuất hiện tiếng nói phê phán báo cáo này của Giáo sư Neal Koblitz thuộc khoa Toán của Đại học Washington ở bang Seattle – Hoa Kỳ.

Chỉ trích của GS. Neal Koblitz đã gây ra phản ứng trái chiều trong những người làm chính sách và hoạt động giáo dục tại Việt Nam.

BBC đã có cuộc phỏng vấn với GS. Neal Koblitz.

Neal Koblitz: Tôi nghĩ bản báo cáo này có vấn đề từ đầu đến cuối. Tuy nhiên, có thể có một số vấn đề về giáo dục đại học Việt Nam bị các tác giả này chỉ trích cũng cần được cải tổ.

Ví dụ, họ đưa ra con số 25% chương trình học bao gồm các môn nặng về ‘nhồi nhét tư tưởng chính trị’. Ở Hoa Kỳ, nhất là ở cấp trung học, chúng tôi cũng có những môn bắt buộc về ‘giáo dục công dân’ hoặc các môn xã hội khác. Thường thì các môn này có chất lượng giảng dạy rất kém và tốn thời gian.

Có thể ở Việt Nam cũng vậy. Nhưng chuyện đó là do người Việt tự quyết, chứ không phải người Mỹ.

BBC:Ông nghĩ gì về kết luận chính của bản báo cáo, rằng Việt Nam cần phải xây dựng một Hội đồng các trường Đại học Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ Việt Nam xây dựng một trường đại học chuyên về nghiên cứu, với xuất phát điểm ban đầu là đào tạo bậc đại học và từng bước đào tạo bậc sau đại học

Làm như vậy chỉ phí khối tiền của Việt Nam mà thôi. Nếu phía Hoa Kỳ tài trợ dự án kiểu này thì tôi không phản đối làm gì. Tuy nhiên, báo cáo Vallely đã tuyên bố rằng không có chuyện như vậy và dự án này sẽ vô cùng đắt đỏ. Cải tổ các trường đại học hiện thời sẽ có hiệu quả về mặt kinh tế hơn là xây dựng một trường đại học nghiên cứu từ đầu (dĩ nhiên là trừ trường hợp trường đại học mới này là quà tặng từ nước ngoài). Ngay cả khi Việt Nam quyết định xây dựng một số trường học mới thì cũng nên hợp tác với các nước khác (Châu Á hoặc Châu Âu) chứ không nên thông qua nhóm Harvard này.

BBC: Tuy nhiên có một số học giả và trí thức đang đánh giá cao báo cáo Vallely. Ông lý giải điều này như thế nào? Họ ngây thơ về mặt chính trị hay họ là người trong cuộc và biết hệ thống này rõ hơn?

Tôi không muốn phỏng đoán tại sao một số người Việt Nam lại quan tâm đến báo cáo Vallely này hoặc về chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism) nói chung. Tôi nghĩ rằng cần phải suy nghĩ một cách thận trọng và biện chứng về báo cáo này cũng như những điều đang được những người theo chủ nghĩa tân tự do cổ súy và phân tích. Đây là điều mà tôi cố gắng thực hiện trong báo cáo của mình. Hãy nhớ rằng người Mỹ luôn dẫn đầu trong lĩnh vực quảng cáo và marketing – marketing không chỉ về hàng hóa tiêu dùng mà còn về các vấn đề văn hóa và ý thức hệ. Đó là điều không phải bàn cãi. Tiếng Anh có câu thành ngữ: ‘Cỏ bên kia rào có màu xanh tốt hơn’. Những thành tựu của Hoa Kỳ trên lĩnh vực công nghệ cao và hàng tiêu dùng dễ làm thu hút các nước khác. Nhưng có những mặt trái của hệ thống Hoa Kỳ mà những người sinh sống ở đây như chúng tôi hiểu hơn những người bên ngoài. Như tôi đã chỉ ra trong bản báo cáo của mình (khi bàn về vấn đề ‘phá giá’), thường những cái xấu nhất của Hoa Kỳ lại được xuất khẩu nhanh chóng nhất.

BBC: Có ấn tượng rằng ông đang hoài niệm về vai trò của Liên Xô cũ và Đông Âu trong việc hình thành nên các trường đại học đương đại ở Việt Nam. Nếu hệ thống đó ưu việt thì tại sao tại thời điểm này các trường đại học Việt Nam lại bị chỉ trích nhiều đến thế?

Đúng là tôi có hoài niệm về trình độ nghiên cứu khoa học và giáo dục của thời Liên bang Nga. Nền giáo dục Sô-viết về toán học và khoa học rất được ngưỡng mộ trên toàn thế giới đến nỗi một quyển sách được nhiều người ưa chuộng trong thập kỷ 60 mang tựa đề là: ‘Điều Ivan biết nhưng Johnny không’. Quyển sách này chỉ ra những trì trệ về phương pháp giáo dục khoa học của Hoa Kỳ so với Liên bang Nga. Tuy nhiên, cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực từ Liên bang Nga lên giáo dục Việt Nam. Trong báo cáo 1983 nhắm đến các nhà khoa học hàng đầu ở Việt Nam, tôi có chỉ trích việc các viện nghiên cứu khoa học không đóng vai trò gì đối với giáo dục đại học. Đây là nét đặc trưng của nền giáo dục kiểu Pháp và Liên bang Nga (vốn hiển nhiên là hai nền giáo dục có ảnh hưởng lên cách tổ chức giáo dục khoa học của Việt Nam.) Tôi đã nói rằng ở các quốc gia còn nghèo khó thì việc tách nghiên cứu khoa học ra khỏi đào tạo đại học là rất phí phạm. Tôi đã chỉ ra rằng ở Hoa Kỳ, phần lớn các nhà nghiên cứu khoa học cơ bản đều dạy đại học, và tôi cũng đã nói rằng cách làm này được ưa chuộng hơn cách của hệ thống Liên bang Nga và Pháp.

Image caption Nhiều ý kiến khác nhau về làm sao cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam

BBC: Ông có cho rằng những tranh cãi trong lĩnh vực giáo dục chẳng qua là một dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang nằm dưới tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ? Nhưng có gì sai trái với mong muốn của nhiều người phát triển một hệ thống được mô phỏng theo mô hình các trường học hàng đầu ở Hoa Kỳ?

Vâng, tôi nghĩ sẽ là một điều đáng buồn nếu để cho chủ nghĩa tân tự do chế ngự ở Việt Nam. Ở nhiều nước đang phát triển, việc áp đặt chính sách của chủ nghĩa tân tự do đã gây ra hậu quả nặng nề lên hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Trong bài viết của mình, tôi có đề cập đến chuyến thăm của mình đến Peru, một ví dụ điển hình về vấn đề này.

Cũng sẽ là một sai lầm nếu Việt Nam rơi vào vòng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Tôi biết nhiều người Việt Nam không tin Trung Quốc. Họ cũng nên có thái độ thận trọng tương tự như vậy đối với Hoa Kỳ. Trong cả hai trường hợp, Việt Nam đều có nhiều lý do có nguồn gốc lịch sử để hết sức thận trọng.

Không có gì sai trái với mong muốn học hỏi và bắt chước những cái hay của các trường học hàng đầu ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các trường này có những cái dở không nên bắt chước theo. Nhiều trường đại học Hoa Kỳ vô cùng quan liêu, và thu nhiều khoản chi phí hành chính rất cao. Nếu Việt Nam cố bắt chước cơ cấu hành chính của các nền giáo dục đại học Hoa Kỳ thì sẽ dẫn đến kết quả hành chính quan liêu tăng vọt ở Việt Nam – điều mà tôi nghĩ rằng nhiều người Việt Nam không muốn xảy ra.

BBC: Ông nghĩ Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm từ đâu để cải cách hệ thống giáo dục của mình?

Có nhiều nơi để học hỏi. Ở cấp học cơ sở và phổ thông trung học, Việt Nam có thể học mô hình của Nhật nổi tiếng về cách xây dựng các chương trình học ở cấp học này. Một số nhà giáo dục Hoa Kỳ cho rằng Hoa Kỳ nên theo hệ thống của Nhật (mặc dù còn nhiều lý do cho thấy khó có chuyện đó xảy ra). Ở cấp đại học, có nhiều cơ sở của Học viện Công nghệ Ấn Độ cũng đã rất thành công.

Trường Đại học Waterloo ở Canada có lẽ có nhiều kinh nghiệm thành công nổi tiếng trên thế giới trên lĩnh vực gắn giáo dục đại học với nhu cầu của các ngành nghề và các chương trình đào tạo học việc ở bậc đại học. Còn trong lĩnh vực đào tạo cao học Hoa Kỳ có nhiều chương trình đào tạo tiến sĩ thành công nhất.

Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

Kết nối Internet liên quan

BBC không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài