Nghĩ về phiên tòa đầu năm 2010

Ông Lý Thái Hùng
Image caption Tác giả cho rằng vì lo sợ đối lập cao độ, nhà nước Việt Nam đã phải sử dụng các bản án có hình phạt răn đe cao nhất.

Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2009, cơ quan an ninh Việt Nam đã ra lệnh bắt khẩn cấp 5 nhà dân chủ gồm ông Trần Huỳnh Duy Thức (23/5), Luật sư Lê Công Định và ông Lê Thăng Long (13/6), ông Nguyễn Tiến Trung và ông Trần Anh Kim (7/7).

Những người này đã bị cáo buộc là vi phạm điều 88 luật hình sự (tội tuyên truyền chống nhà nước). Vài ngày sau khi bắt giữ Luật sư Lê Công Định, cơ quan an ninh đã tổ chức hai cuộc họp tại Sài Gòn và Hà Nội để phổ biến đoạn băng video gọi là “nhận tội và xin khoan hồng” của Luật sư Định.

Cũng với chiêu thức này, sau một tuần bắt giữ ông Trần Anh Kim và ông Nguyễn Tiến Trung, cơ quan an ninh đã tung ra những đoạn video “nhận tội và xin khoan hồng” của hai nhà dân chủ này.

Sau 4 tháng điều tra, ngày 13 tháng 10 năm 2009, cơ quan an ninh đã thay đổi tội danh từ “tuyên truyền chống nhà nước” sang tội danh “âm mưu lật đổ chế độ” (điều 79 Luật hình sự) đối với 5 nhà dân chủ nói trên. Dựa trên sự thay đổi này, ngày 23 tháng 11, Viện kiểm sát nhân đã tung ra bản cáo trạng dài 15 trang, để cho lập tòa án xét xử.

Ngày 28 tháng 12 năm 2009, chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ông Trần Anh Kim ra xét xử tại tòa án Thái Bình, kết án ông 5 năm và 6 tháng tù giam, 3 năm quản chế. Trước tòa, ông Trần Anh Kim đã tuyên bố không nhận tội và không xin khoan hồng.

Ngày 20 tháng 1 năm 2010, chính quyền và đảng lại đưa 4 người còn lại ra xét xử tại tòa án Sài Gòn. Phiên tòa dự tính kéo dài trong hai ngày 20 và 21 tháng 1, nhưng đã chỉ diễn ra trong 5 tiếng đồng hồ của ngày 20 với những bản án rất nặng.

Ông Trần Huỳnh Duy Thức bị kết án 16 năm tù và 4 năm quản chế. Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung 7 năm tù và 3 năm quản chế. Luật sư Lê Công Định và ông Lê Thăng Long mỗi người 5 năm tù và 3 năm quản chế.

Tất cả 5 nhà dân chủ liên hệ trong vụ án gọi là “lật đổ chế độ” bị tất cả 65 năm và 6 tháng tù (gồm 48 năm, 6 tháng tù giam và 17 năm quản chế).

Bản án rất phi lý cho những người sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong cái nôi “xã hội chủ nghĩa” bị coi là lật đổ chế độ khi biểu hiện những quan điểm của mình về việc tái lập một xã hội tự do, dân chủ, đa nguyên bằng phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Qua bản án, người ta đã thấy rõ sự tự phủ nhận của chính quyền Cộng sản Việt Nam về những gì mà họ đã viết ra trong bản Hiến pháp hay những gì mà họ đã thừa nhận trong bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền. Đồng thời nó còn tô đậm bản chất phản dân chủ và nhẫn tâm của chế độ.

Tuy nhiên, không ít người bi quan đã cho rằng sự kết án nặng nề đối với các nhà trí thức trẻ đã cho thấy là chính quyền cộng sản Việt Nam còn quá mạnh, sẵn sàng trấn áp mọi sự đối kháng từ trong trứng nước. Có thật như vậy không?

Ngày một lúng túng

Image caption Ông Lê Công Định chịu án 5 năm tù và ba năm quản chế

Trong nhiều năm qua, mỗi một vụ án mà chính quyền cộng sản Việt Nam đưa ra xét xử đều phục vụ cho những mục tiêu chính trị của họ.

Từ năm 2001 trở đi, họ sử dụng tội danh “gián điệp” để kết án nặng nề đối với một số nhà dân chủ như Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn v.v...

Lúc đó họ dùng các phiên tòa này để ngăn chặn làn sóng liên lạc và trao đổi giữa những người ở trong nước và hải ngoại khi mạng Internet bắt đầu bùng nổ.

Nhưng kết quả cho thấy là Hà Nội đã không những không ngăn chặn được những trao đổi trong và ngoài nước mà còn càng ngày càng thêm lúng túng trong chính sách gọi là “chống diễn biến hòa bình” kéo dài cho đến ngày hôm nay.

Từ năm 2005 trở đi, họ sử dụng bản án “tuyên truyền chống chế độ” để một mặt tìm cách cô lập và ngăn chặn sự liên kết giữa một số nhà dân chủ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân, ông Phạm Bá Hải…; mặt khác, từ năm 2008, để ngăn làn sóng chống Trung Quốc khi kết án nặng nề 9 nhà dân chủ tại Hà Nội và Hải Phòng.

Nhưng kết quả cho thấy là Hà Nội đã không những không ngăn chặn được sự liên kết đấu tranh giữa các nhà dân chủ mà còn bị chính những cáo buộc “tuyên tuyền chống chế độ” đối với các nhà yêu nước làm cho đảng Cộng sản Việt Nam bị phân hóa một cách trầm trọng - một nguy cơ được chế độ cảnh báo là “tự diễn biến” nội bộ.

Từ năm 2009, chính quyền sử dụng tội danh “lật đổ chế độ” với bản án cao nhất là tử hình, để cáo buộc các nhà dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim, với mục tiêu ngăn chặn sự xuất hiện đối đầu công khai của những lực lượng phản kháng.

Lo sợ đối đầu

Image caption Ông Trần Huỳnh Duy Thức và ông Lê Thăng Long (đầu tiên và thứ ba từ trái) cho rằng mình vô tội.

Những diễn biến của tình hình gần đây đã từng bước dẫn đến bối cảnh xuất hiện đấu tranh công khai của các lực lượng từ tôn giáo, trí thức, công nhân, thanh niên sinh viên, cựu đảng viên ly khai và các nhà dân chủ vốn tiềm ẩn từ nhiều năm qua.

Đây là diễn trình tất yếu khi mà sự bất mãn đã chan hòa trong mọi thành phần quần chúng và nhu cầu đấu tranh đòi hỏi sự phối hợp chung của các nhóm để từng bước tạo thành lực đối trọng với chế độ.

Chính quyền Cộng sản Việt Nam tất đã phải nhìn thấy diễn trình nói trên sớm muộn gì cũng xảy ra. Họ cũng không thể để yên cho các lực lượng đấu tranh liên kết mạnh mẽ lại với nhau mà phải tìm cách cô lập, ngăn chặn dưới nhiều hình thức.

Họ đã từng mạnh tay đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của sinh viên, trí thức vào tháng 12 năm 2007 và đã kết án nặng nề đối với 9 nhà dân chủ chỉ vì treo biểu ngữ chống Trung Quốc.

Nhưng những biện pháp nói trên đã không làm chùn bước các nhà tranh đấu. Hà Nội buộc lòng phải nâng cấp hàng rào phòng thủ để ngăn chặn sự xuất hiện công khai của các lực lượng đấu tranh. Họ đã phải dùng đến lá bùa “âm mưu lật đổ chế độ” với bản án cao nhất là tử hình để răn đe.

Tuy nhiên, đã hết rồi thời kỳ mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam có thể tự tung, tự tác. Họ đã bị suy thoái rất nhiều và bị chồng chất áp lực từ bên trong nội bộ ra đến bên ngoài thế giới.

Khi chế độ cộng sản rơi vào hai tình huống: đảng viên không còn tin vào lãnh đạo, và lãnh đạo đang phải lúng túng đối phó trước các áp lực, thì đó chính là cơ hội xuất hiện công khai của phong trào dân chủ mà chúng ta đã từng mục kích tại Đông Âu cách đây 20 năm.

Đảng cộng sản Việt Nam có thể gia tăng đàn áp và tung ra những bản án nặng nề lên các nhà dân chủ, nhưng họ sẽ không bao giờ khuất phục được tinh thần yêu nước của người dân - khi hiểm họa suy vong và Hán hóa tại Việt Nam ngày càng rõ nét qua sự tiếp tay của chính nhà cầm quyền Hà Nội.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lý Thái Hùng, là tác giả tập Biên khảo lịch sử chính trị “Đông Âu Tại Việt Nam” xuất bản đầu năm 2007 và là Tổng Bí Thư của Đảng Việt Tân có trụ sở tại Hoa Kỳ.

Tin liên quan