Biển Đông khuấy đục vì căng thẳng

Năm vừa qua chứng kiến mặt nước Biển Đông càng bị khuấy đục vì căng thẳng.

Cả Trung Quốc và Việt Nam, một phần khích lệ bởi tinh thần dân tộc chủ nghĩa của “công dân mạng” ngày thêm đông đảo, đã tìm cách củng cố tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Nhiều ngư phủ Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc bắt giữ ngoài đảo Hoàng Sa, và số lượng tàu tuần duyên Trung Quốc vây quanh Trường Sa đã tăng hơn gấp đôi. Gần đây Bắc Kinh lại loan báo sẽ bắt đầu phát triển du lịch hạng sang ở nhiều đảo thuộc Hoàng Sa. Phát triển du lịch quả thực đã trở thành chiến lược rõ rệt mới nhất của nhiều nước, không chỉ Trung Quốc mà cả Malaysia và Việt Nam.

Việt Nam thì tìm cách tập hợp ủng hộ bằng việc quốc tế hóa cuộc xung đột. Một ví dụ gần đây là cuộc gặp gây tranh cãi tháng 11/2009 tại Hà Nội, khi 150 viên chức và học giả được mời để nghiền ngẫm về những khía cạnh khó giải nhất của tranh chấp Biển Đông.

Tuy nhiên, trên thực tế, va chạm trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam vì Hoàng Sa, Trường Sa là một phần của mô hình lớn hơn phản ánh sự cứng rắn gia tăng của Trung Quốc trên Biển Đông. Nó dẫn tới va chạm không chỉ với Hà Nội mà cả với Washington mùa xuân 2009 và gần đây hơn là với Tokyo.

Sự cứng rắn của Trung Quốc được đẩy lên nhờ sự bành trướng hải quân không ngừng trong 10 năm qua. Lực lượng hiện nay được nói có ít nhất 260 tàu gồm 75 tàu chiến chủ lực và hơn 60 tàu ngầm. Hải quân đã chiếm hơn một phần ba ngân sách quốc phòng, mà đã tăng hai con số trong một thập niên vừa rồi.

Từ 2007, khi một viên tướng Trung Quốc nói với báo chí rằng dự án hàng không mẫu hạm đang tiến triển thuận lợi, đã có nhiều tuyên bố của giới chức Trung Quốc xác nhận ý định có được tàu sân bay.

Nan Li và Christopher Weuve, hai phân tích gia của Trường Cao đẳng Hải quân Mỹ, gần đây tin rằng Bắc Kinh sẽ “có được tàu sân bay cỡ trung trong tương lai trung hạn dành cho các sứ mạng gần biển và để có kinh nghiêm hoạt động, và như thế họ có thể có tàu sân bay ra xa biển về dài hạn”.

Theo hai người này, các con tàu có lẽ sẽ chở máy bay Su-33 của Nga theo kiểu mẫu STOBAR, vốn được Bắc Kinh gần đây quan tâm.

Ý nghĩa

Nếu Trung Quốc bắt đầu triển khai những con tàu như thế, ý nghĩa tức thời cho Việt Nam là gì?

Trước hết, có khả năng là nếu xung đột xảy ra dính líu tàu sân bay, nó sẽ diễn ra quanh Trường Sa. Cuối thập niên 1980, Đô đốc Lưu Hoa Thanh, khi đó đứng đầu Hải quân Trung Quốc, dự đoán Trường Sa là khu vực nhiều khả năng dẫn tới sự triển khai một hạm đội Trung Quốc. Ông ta nói nơi này sẽ là “công cụ tốt nhất để giải quyết tranh chấp quần đảo Nam Sa (Trường Sa)”.

Điều này là vì nếu chiến tranh xảy ra vì Đài Loan, Trung Quốc có thể dựa vào số lượng thừa thãi máy bay trên bộ, và một tàu sân bay sẽ bị xem là không cần thiết. Nếu xung đột hải quân nổ ra giữa Việt Nam và Trung Quốc vì Hoàng Sa, tàu Trung Quốc có thể được không quân từ Hải Nam hỗ trợ tương đối nhanh. Ví dụ, trong trận đánh Hoàng Sa 1974, máy bay tiêm kích và cường kích được đưa từ Hải Nam để trải thảm các vị trí phía Việt Nam.

Image caption Việt Nam mua nhiều vũ khí của Nga

Tuy nhiên, Trường Sa lại cách xa hơn, và nếu Bắc Kinh thiếu tàu sân bay, họ sẽ không chắc có ưu thế trên không.

Trở ngại cho chương trình

Nhưng có nhiều trở ngại trước khi Trung Quốc có thể triển khai thành công tàu sân bay.

Tàu sân bay không tung hoành dọc ngang trên biển một mình mà đòi hỏi có hộ tống. Lực lượng hộ tống, thường bao gồm tàu ngầm, tàu tiếp tế, tàu chiến phóng tên lửa và tàu khu trục nhỏ, cùng với trực thăng chống tàu ngầm và máy bay tuần tiễu. Nó sẽ tốn tới hàng tỉ đôla và mất nhiều thời gian sắp đặt.

Thứ hai, mặc dù tàu chiến trên mặt nước mới nhất của Trung Quốc đã hoàn thiện được một số khuyết tật trong khả năng đối không và phát hiện tàu trên mặt nước, nhưng đa số phân tích gia nói khả năng chống tàu ngầm của Trung Quốc vẫn dưới chuẩn.

Hành động của Việt Nam

Người ta đã nói nhiều đến hợp đồng 1.8 tỉ đôla với Nga để có sáu tàu ngầm hạng Kilo. Khi mà tạp chí Jane’s Intelligence Review ước tính ngân sách quốc phòng hàng năm của Việt Nam chỉ là 3.6 tỉ đôla, việc mua tàu ngầm là sự đầu tư đáng kể và là dấu hiệu gửi cho Bắc Kinh rằng Hà Nội quyết phát triển chiến lược phòng vệ biển hiệu quả. Được Nato gọi là “Lỗ Đen” do khả năng tránh bị phát hiện, các tàu ngầm Kilo sẽ là thách thức đáng kể cho tàu sân bay Trung Quốc.

Việt Nam cũng sẽ có tàu khu trục lớp Gepard 2 vào cuối năm nay. Những tàu nặng 2000 tấn này có tên lửa Uran-E và trực thăng Ka-28. Cùng với tàu phóng tên lửa lớp Turantul của Nga mà Việt Nam đã mua từ cuối thập niên 1990, những con tàu mới hiện đại sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa hạm đội thời Xô Viết của Việt Nam và các tàu chiến trên mặt nước hiện đại của Trung Quốc.

Hà Nội gần đây cũng hoàn tất hợp đồng với Nga để mua 20 máy bay Su-30MK2, có thể hỗ trợ cho hạm đội.

Những điều này có nghĩa là bất kỳ đoàn tàu sân bay nào của Trung Quốc tiến gần tới khu vực Trường Sa do Việt Nam kiểm soát sẽ không lành lặn trong một cuộc hải chiến kéo dài. Để giành kiểm soát khoảng 30 hòn đảo do Việt Nam chiếm giữ, tàu sân bay sẽ cần hỗ trợ của lực lượng đổ bộ, do Hà Nội đã đưa quân đồn trú ra các mỏm đá. Số quân chính quy này trong những năm tới sẽ được bổ trợ bằng lực lượng dân quân tự vệ biển mới thành lập.

Những xu hướng mới nhất trong việc mua quốc phòng của Việt Nam chứng tỏ khi mà sức mạnh hải quân Trung Quốc mở rộng trong những thập niên tới, Hà Nội sẽ phải có chiến lược phòng vệ biển nghiêm ngặt hơn. Bằng không, ngư dân của họ có thể sẽ lúng túng, tàu bị lật khi hạm đội tàu sân bay Trung Quốc rẽ sóng hướng về Trường Sa.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ về An ninh châu Á ở Học viện Chính trị Paris (Institut d’Études Politiques de Paris - Science Po). Hiện ông đang là Nhà nghiên cứu Quốc tế Viếng thăm ở Học viện Nghiên cứu và Phân tích Quốc phòng ở New Delhi.

Tin liên quan