Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
28 Tháng 12 2006 - Cập nhật 13h02 GMT
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
Những cơ hội bỏ lỡ và chặng đường phía trước
 
Giáo sư Đặng Phong
Giáo sư Đặng Phong có nhiều năm nghiên cứu về kinh tế Việt Nam
Năm 2006 đã khép lại với kỷ niệm 20 năm quyết định lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VI theo đuổi chính sách Đổi Mới.

Giáo sư kinh tế Đặng Phong là chủ nhiệm một công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam từ năm 1945 tới những năm 2000 hiện nay và ông tỏ ra lạc quan thận trọng về sự phát triển của Việt Nam cả về kinh tế, chính trị và xã hội trong thời gian tới đây.

Trong cuộc phỏng vấn ông Đặng Phong, người cũng là Chủ nhiệm Khoa Kinh tế của Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh, BBC đã mở đầu với câu hỏi về những lý do dẫn tới chính sách Đổi Mới của Việt Nam cách đây tròn 20 năm:

Giáo sư Đặng Phong: Cái sự nghiệp Đổi Mới của Việt Nam không phải là 20 năm đâu. Nếu chỉ có 20 năm thì không nói hết Đổi Mới. Trước khi có Đổi Mới thì có hàng loạt những sự kiện dẫn tới Đổi Mới, đó là một lịch sử nữa, có thể nói đó là giai đoạn tiền sử của Đổi Mới.

Ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài nghiên cứu về Đổi Mới ở Việt Nam cũng đã nhiều, tôi xin nói những hiểu biết của tôi về lĩnh vực này.

Đổi Mới của Việt Nam bắt nguồn từ nhiều yếu tố. Nó không bắt nguồn từ một sáng kiến của trung ương, hoặc của địa phương. Nó bắt nguồn từ một hiện tượng mà chúng tôi gọi là 'cai sữa'. Đó là hiện tượng từ sau 1975-76, Việt Nam đột ngột bị giảm sút các nguồn viện trợ từ bên ngoài vào.

Viện trợ của Mỹ cho miền Nam khoảng một tỷ đô la mỗi năm đột ngột chấm dứt. Viện trợ của các nước Xã hội Chủ nghĩa và các nước thế giới thứ ba cho Miền Bắc Việt Nam và sau này cho nước Việt Nam thống nhất cũng đột ngột giảm sút từ năm 1978. Cái giảm sút này không dễ nhìn thấy như viện trợ của Mỹ. Viện trợ của Mỹ hết là hết luôn. Viện trợ của các nước cho Việt Nam giảm sút theo nhiều cách khác nhau, trong đó có vấn đề giá.

 Đổi Mới của Việt Nam bắt nguồn từ một hiện tượng mà chúng tôi gọi là 'cai sữa'.
 

Trước đây, phe XHCN viện trợ cho VN chủ yếu là cho không. Và cái phần cho phải trả nợ thì tính theo giá gần như cho không, đó là giá nội địa của Liên Xô. Từ 1978, Việt Nam bắt đầu tham gia Khối Cộng đồng Tương trợ Kinh tế thì tất cả tiền viện trợ đó phải mua của chính các nước XHCN theo giá mới, gấp bốn, năm lần giá nội bộ cũ. Do đó với một số tiền viện trợ tương tự như vậy, Việt Nam chỉ có thể mua được khoảng một phần ba số lượng hàng hóa. Do đó có một cuộc khủng hoảng thiếu trên tất cả các lĩnh vực, thiếu phân bón, thiếu xăng dầu, thiếu nguyên vật liệu, thiếu hàng tiêu dùng và rất nhiều thiếu khác.

Đó là yếu tố thứ nhất làm cho nguồn vào giảm sút. Yếu tố thứ hai là quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nước trong khu vực. Cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc làm cho Việt Nam mất một phần rất lớn nguồn viện trợ của Thế giới thứ ba. Và cả mơ ước ba, bốn tỷ đô la tiền bồi thường chiến tranh của Mỹ cũng tan thành mây khói.

Tất cả những sự kiện đó đưa nền kinh tế Việt Nam tới một tình trạng như tôi nói - đó là 'cai sữa'. Không còn bầu sữa viện trợ nữa và người VN bắt đầu nhận thức ra rằng mình phải sống với cái mình làm ra. Và sống với cái mình làm ra là cả một vấn đề vì sau bao năm chiến tranh Việt Nam có sống với cái mình làm ra đâu.

 Thời kháng chiến chống Pháp, có ai nghĩ tới tham nhũng đâu. Lương tâm có thể đưa con người vào trước lỗ châu mai, đâm vào xe tăng địch được thì làm sao phải tham nhũng.
 

Bây giờ phải sống với cái mình làm ra - đó là một sự khủng hoảng. Cái khủng hoảng đó làm cho cả thể chế kinh tế mà trước đây thấy là duy nhất đúng, là không thể sửa chữa được nay thấy là không được nữa. Nhà nước không cung cấp đủ vật tư cho nông dân, làm sao nông dân giao nộp thóc cho nhà nước theo đúng chỉ tiêu. Nhà nước không cung cấp nguyên vật liệu cho nhà máy, làm sao nhà máy sản xuất được. Người nông dân bắt đầu phải mua phân bón ở ngoài, mua thuốc sâu ở ngoài và khi họ đã phải mua những thứ đó ở ngoài làm sao họ có thể bán cho nhà nước theo giá quy định được nữa. Họ phải bán theo giá cao. Nhà nước không mua thì họ bán ra thị trường.

Bây giờ cũng đã 20 năm rồi nhưng nghĩ lại thời bấy giờ ông còn nhớ những sự kiện, những cách làm việc làm cho cả nền kinh tế rơi vào tình trạng rất khó khăn không?

Nhớ chứ. Một trong những nhiệm vụ chính của nhà sử học là phải nhớ. Tôi có rất nhiều thí dụ nhưng trong khuôn khổ chương trình của các anh, tôi có thể lấy một thí dụ. Đó là tp Hồ Chí Minh, nói đúng hơn là dạ dầy của tp HCM. Thành phố đó từ 300 năm trước đây chưa bao giờ thiếu gạo, sau khi giải phóng xong thì cái dạ dầy của người dân thành phố được giải phóng khỏi gạo.

 Và sống với cái mình làm ra là cả một vấn đề vì sau bao năm chiến tranh Việt Nam có sống với cái mình làm ra đâu.
 

Đó là chuyện không thể tưởng tượng được. Vì theo kế hoạch quan liêu bao cấp, nhà nước độc quyền quản lý thóc gạo và cung cấp cho thành phố theo chỉ tiêu kế hoạch, 3,6 triệu con người thì có bao nhiêu cân gạo tính đủ. Nhưng bây giờ không mua được gạo của nông dân, Liên Xô và Trung Quốc không viện trợ gạo nữa, lấy đâu ra. Thành phố buộc phải lấy những hạt bo bo, là thứ mà Liên Xô viện trợ để chăn nuôi gia súc cho dân thành phố ăn.

Thuyền nhân Việt Nam ở Hồng Kông năm 1989
Những sai lầm trong chính sách sau 1975 khiến nhiều người bỏ nước ra đi

Đó là những chuyện không thể tưởng tượng được, mà những người lãnh đạo thành phố lúc đó không thể chập nhận chuyện đó được. Bây giờ làm thế nào? Họ đứng trước một sự lựa chọn: hoặc là chấp hành quy định của nhà nước là tiếp tục cho người dân ăn hạt bo bo, như bò, như lợn, hoặc là mua lương thực của người nông dân theo giá cao. Và họ đã quyết định phương án hai.

Ngân hàng của thành phố chi tiền, xe của quân đội giúp chuyên chở thóc gạo, công ty lương thực của thành phố mà đứng đầu là một người phụ nữ, mà nếu không phải là một người phụ nữ như bà đó thì khó làm được việc này vì bà đó vốn là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, bà đó đi xuống đồng bằng sông Cửu Long, mua gạo của địa phương theo giá cao, theo giá thị trường, bán cho nhân dân.

Về quy chế nhà nước, như thế là sai giá nhà nước. Nhưng về lương tâm người cộng sản, bà đó làm đúng vì bà đó đã lo cho cái dạ dầy của nhân dân. Và lúc đó những cơ quan trung ương trợn mắt nhìn. Làm như thế là sai nhưng để dân đói còn sai hơn. Đó là cuộc phá rào ngoạn mục. Chúng tôi thường dùng cái chữ là 'đi theo xe cứu thương, xe cứu hỏa để vượt đèn đỏ'. Đèn đỏ là những quy chế của nhà nước, nhưng đây là trường hợp đặc biệt, chúng tôi được vượt để cứu thành phố.

Nhưng cứu thành phố rồi thì những nơi khác họ thấy rằng 'Ô hay, tại sao chúng tôi phải tiếp tục bán theo giá thấp nhỉ. Và không ở đâu mua được theo giá cũ nữa. Cả nước đã áp dụng giá của Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh là 2,5 để cứu thành phố thay vì 0,52 đồng. Cuộc phá rào đó không chỉ cứu cái dạ dày của người dân thành phố mà còn cứu toàn bộ tầng lớp nông dân của cả nước Việt Nam khỏi giá quy định của nhà nước Việt Nam là 0,52 đồng. Tôi nghĩ đó là một ví dụ thú vị trong trăm ngàn ví dụ khác.

Và kết quả là gì, thay vì nhà nước trị tội bà giám đốc công ty lương thực thì sửa hệ thống giá của nhà nước. Chúng tôi thường nói đùa rằng thay vì xử lý người phá rào thì bây giờ sửa cái hàng rào. Đó là bước đầu của Đổi Mới.

Và Đổi Mới ở Việt Nam cũng diễn ra khi mà Tổng Bí Thư Lê Duẩn, khi đó qua đời vào tháng bẩy năm 1986, đây có phải là một trong những lý do làm cho Đổi Mới diễn ra nhanh hơn không hay kể cả còn Tổng Bí Thư Lê Duẩn còn hồi bấy giờ thì Đổi Mới vẫn là điều tất yếu sẽ phải xảy ra?

Để nghiên cứu về cuộc Đổi Mới ở Việt Nam thì tôi cũng phải tham khảo cái lịch sử chuyển đổi ở rất nhiều nước XHCN khác trong đó có Liên Xô và Trung Quốc. Và có một lần trong một cuộc hội thảo ở Mỹ với một nhóm bạn bè thân mật, tôi có nói một câu mà đến nay họ cứ hay nhắc lại vì họ cho thế là chuyện đúng, tôi không biết có đúng hay không. Nhưng nhiều khi cuộc đổi mới của lịch sử một dân tộc nó đi theo những chiếc xe tang.

 Sự vắng mặt của ông Lê Duẩn là điều đáng buồn vì dù sao dân tộc Việt Nam cũng mất đi một chiến sĩ cách mạng lừng lẫy. Nhưng về mặt lịch sử của đổi mới kinh tế thì có lẽ sự vắng mặt của ông Lê Duẩn làm cho thông thoáng cái lộ trình Đổi Mới của Việt Nam.
 

Nếu không có cái chết của Stalin thì không có Đại hội XX. Nếu không có đám tang của Mao Trạch Đông thì liệu Đặng Tiểu Bình có làm được cuộc đổi mới ở Trung Quốc không? Tôi nghĩ là không. Việt Nam, tôi không hiểu rõ lắm về Tổng bí Thư Lê Duẩn, nhưng những gì tôi được biết trên những văn bản mà ông đó đã viết thì ông đó là một trong những người đại diện khá tiêu biểu của mô hình kinh tế cũ, với làm chủ tập thể, với đi lên sản xuất lớn XHCN.

Với những tư tưởng đó thì nước Việt Nam khó đổi mới. Nhưng ông Lê Duẩn bắt đầu ốm từ những năm 1985 và đến 86 thì ông đó ốm nặng và đến tháng bẩy thì ông đó qua đời. Sự vắng mặt của ông Lê Duẩn là điều đáng buồn vì dù sao dân tộc Việt Nam cũng mất đi một chiến sĩ cách mạng lừng lẫy. Nhưng về mặt lịch sử của đổi mới kinh tế thì có lẽ sự vắng mặt của ông Lê Duẩn làm cho thông thoáng cái lộ trình Đổi Mới của Việt Nam.

Nhưng ngay sau đó, sau khi Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đưa ra những tuyên bố, những hành động rất cấp tiến, thì ông có nhận thấy trong những năm sau đó, cái bước tiến của Đổi Mới trong một chừng mực nào đó nó đã giảm đi và không còn có được cái tốc độ và cái quyết tâm của những ngày đầu?

Đúng, nếu xem xét sự phát triển của các dân tộc trên thế giới nói chung và so sánh với Việt Nam thì có thể thấy rằng sự nghiệp Đổi Mới của Việt Nam nó đi với những đột phá rất ngoạn mục nhưng sau đó nó có những bước tiệm tiến, tôi xin lỗi tôi dùng chữ nho, những bước tiệm tiến, điều chỉnh và tự kiềm chế trong rất nhiều lĩnh vực. Thì đó là đặc điểm sự nghiệp Đổi Mới của Việt Nam. Tại sao? Theo tôi nghĩ có rất nhiều lý do nhưng một trong những lý do rất quan trọng là chính những người đã xây dựng lên cơ đồ của mô hình kinh tế cũ lại chính là những người thực hiện công cuộc Đổi Mới.

Và bây giờ nhìn lại lịch sử của 20 năm vừa qua, ông có thấy ở những giai đoạn nào mà đáng ra Việt Nam đã có thể tận dụng những cơ hội để có những bứt phá xa hơn và rút ngắn thời gian cần thiết để đuổi kịp các nước ở trong khu vực?

Là một người nghiên cứu lịch sử, tôi có nhiều nuối tiếc lắm. Những sự mất mát về những cơ hội vàng của đất nước Việt Nam nhiều lắm. Cái người đánh mất đó, lúc thì phía bên này, lúc thì phía bên kia. Chứ cũng đừng có quy cho riêng người VN làm mất cơ hội.

Nay Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và cả thách thức

Người Mỹ trước hết vào những năm 1944-1945 đã lỡ mất một cơ hội vàng để cứu VN khỏi chủ nghĩa thực dân, để bắt tay với chính phủ Hồ Chí Minh kiến tạo một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình. Tôi nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó còn gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ xin gửi 200 người sang để học kinh nghiệm của Mỹ để xây dựng đất nước Việt Nam. Hàng chục lá thư gửi cho Tổng thống Truman không được trả lời, người Mỹ đã quay đi và một cơ hội vàng đã đánh mất.

Rồi khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Hồ Chí Minh không biết bao nhiều lần nài nỉ người Pháp trao độc lập cho Việt Nam và người VN sẵn sàng tạo điều kiện cho người Pháp kinh doanh ở đây, hoạt động ở đây, giáo dục ở đây, phát triển văn hóa ở đây, Việt Nam sẵn sàng đứng trong Khối Liên Hiệp Pháp. Đó là một cơ hội vàng nữa đánh mất không riêng cho Việt Nam mà cho cả nước Pháp. Nước Pháp đau đớn, đầy thương tích sau chiến tranh nếu lúc đó bắt tay với chính phủ Hồ Chí Minh để xây dựng Việt Nam thì nước Pháp đã khác lắm so với bây giờ và Việt Nam cũng đã khác lắm so với bây giờ. Không có cuộc Kháng chiến chín năm, không có cuộc kháng chiến với Mỹ 21 năm. Cơ hội đó đánh mất là do người Pháp.

Một cơ hội nữa là Tổng Tuyển cử vào năm 1956 theo quay định của Hiệp định Geneve. Ông Ngô Đình Diệm, rất đáng tiếc, ông ấy từ chối từ đầu đến chân. Ông ấy không chịu hiệp thương, ông ấy không chịu thực hiện tổng tuyển cử. Và ông ấy thực hiện không phải tổng tuyển cử mà tổng tàn sát trên toàn miền Nam.

Tôi mới đọc hôm qua một tài liệu, nói riêng ở miền Đông Nam Bộ có 21.000 đảng viên mà sau cuộc tổng tàn sát chỉ còn 9000. Nếu như có một tập thể nào, có một đội hình nào nhịn không đánh nhau để cho mười người người ta giết chín thì có ngồi yên được nữa không? Và cuộc chiến tranh bắt buộc phải nổ ra. Lẽ ra là hòa bình, thương lượng và tổng tuyển cử, và tôi nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm nếu tham gia tổng tuyển cử thì ông Hồ Chí Minh đã từng để cho Nguyễn Hải Thần làm Thủ tướng thì ông Ngô Đình Diệm có lẽ cũng không đến nỗi nào.

Nhưng Ngô Đình Diệm đã chọn cái chết của hơn 90 phần trăm những người cộng sản và sau đó ông ấy trả giá bằng chính cái chết của ông đó và cuộc chiến tranh kéo dài. Cái đó là một cơ hội nữa đánh mất mà không phải thuộc chính phủ này. Sau khi chiến tranh kết thúc thì những cơ hội vàng cũng đã đến. Tôi nhớ những tài liệu tôi được đọc, vào khoảng năm 1977, chính phủ Mỹ muốn hàn gắn vết thương của bản thân nước Mỹ sau cuộc chiến Việt Nam đã giơ tay ra với Việt Nam, muốn thiết lập quan hệ ngoại giao, bình thường hóa quan hệ, và theo tôi nghĩ nếu lúc đó Việt Nam bắt tay với Mỹ, thì không phải đến bây giờ mới vào được WTO. Và cơ hội đó là trách nhiệm của phía người VN.

Rồi tôi nhớ rằng sau khi giải phóng miền Nam, một đội ngũ rất đông những trí thức, những nhà kinh doanh ở miền Nam gửi kiến nghị cho chính phủ, sau này tôi được đọc những kiến nghị đó, đề nghị phát triển kinh tế, đề nghị mở rộng quan hệ với các nước thế giới thứ ba và phương Tây và họ sẽ là cầu nối. Tôi có gặp một số phó Thủ tướng của chính phủ cũ còn ở lại, họ thiết tha muốn kiến tạo lại đất nước.

Nhưng cuộc cải tạo công thương nghiệp đã xóa sạch tất cả những ước vọng đó. Và một cơ hội vàng nữa cũng đã mất. Cái đó là phía những người hoạch định chính sách hồi đó, mà có thể nói tên những người đó ra. Trước hết là ông Đỗ Mười, lúc đó là Trưởng ban Cải tạo Công Thương nghiệp Trung Ương và tôi không nghĩ là ông Lê Duẩn không biết điều đó. Một cơ hội lớn nữa đã mất. Và bây giờ chúng ta trầy trật để hội nhập với thế giới và phải trả giá rất đắt. Tôi nghĩ rằng những điều kiện nước Mỹ đưa ra cho Việt Nam ngày hôm nay nó nghiệt ngã hơn rất nhiều lần những điều kiện mà chính phủ Carter đưa ra với VN hồi năm 1977.

Kể lại chuyện đó, tôi không có ý định oán trách ai, tôi mong rằng từ những bài học đó người Việt Nam phải rút kinh nghiệm cho thời gian sắp tới. Phải chống bệnh kiêu ngạo, chống bệnh chủ quan để nắm bắt kịp thời những cơ hội nếu không thì mình trả giá, trả giá và trả giá và sự trả giá đó đồng thời có nghĩa là sự tụt hậu.

Và thưa ông, nếu trong lịch sử gần đây thôi, theo ông ở những giai đoạn nào đáng ra Việt Nam đã có thể đẩy sự phát triển lên rất nhiều?

Nếu năm 1975-1976, theo tôi nghĩ, mà tôi vào Việt Nam ngay từ tháng Năm năm 1975, chúng ta chỉ cần thực hiện 50 phần trăm chính sách như hiện nay thôi thì Việt Nam đã khác lắm rồi. Đó là kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường, kinh tế mở với phương Tây, Việt Nam làm bạn với các nước trên thế giới.

Thứ hai, vào những năm 1980, đầu thập niên 80, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế do những sai lầm của chúng ta. Đổi Mới xong còn rất nhiều vấn đề lưỡng lự, nhiều vấn đề phải giải quyết. Đảng viên có được làm kinh tế không? Trời ơi, mười năm bàn chưa xong, đến bây giờ mới quyết định. Trong khi thực tế nó đã diễn ra rồi. Có vào WTO không? Tôi nhớ khi bà Madeleine Albright sang đây và tiếp theo đó là cuộc họp ở Auckland ở New Zealand, lẽ ra VN tham gia cái hiệp định thương mại với Mỹ từ lúc đó thì người Mỹ ký cả mười đầu ngón tay. Nhưng Việt Nam lưỡng lự, không ký và bây giờ phải ký với giá đắt hơn rất nhiều. Đó là điều đáng tiếc.

Và ông có tin là trong 20 năm tới, với cách giải quyết vấn đề như hiện nay, với nền chính sách như hiện nay thì VN có thể ở một vị thế thuận lợi để có thể phát triển nhảy vọt trong 20 năm tới?

Trước hết tôi phải nói rằng, tôi đi rất nhiều nước ở Mỹ, ở Châu Âu, ở Úc, tôi gặp rất nhiều người Việt Nam và họ đưa ra rất nhiều những chủ trương mà tôi thấy khó có thể chấp nhận được. Người Việt Nam khó chấp nhận lắm. Tôi thì sốt ruột và nuối tiếc cho những sự chậm trễ trong nước. Nhưng những chuyên gia nước ngoài đưa ra những gợi ý thì tôi thấy rằng đúng là ngồi ở sa-lông của họ, uống rượu whisky để hoạch định ra những phương án đó thôi chứ ở đây không ai chấp nhận chuyện đó được.

 Cái con đường để đổi mới tiếp tục là làm sao tạo ra cho cái quyền lực đó nó có lợi ích trong sự đổi mới tiếp tục. Đó là bài toán.
 

Tôi nghĩ rằng con đường của nước Việt Nam sẽ là từng bước tiệm tiến đi trong ổn định nhưng chậm không đạt được tốc độ như nhiều người mong muốn. Vì chúng ta không thể ép cái hệ thống lãnh đạo Việt Nam hiện nay phải làm như chúng ta mong muốn. Vả chăng họ cũng có những lý do của họ và không những họ có lý do mà họ còn có quyền lực. Họ quyết định đi ở mức độ ấy.

Còn đứng ở ngoài hô hoán, phải thế này, phải thế kia, nhưng thử hỏi họ có lực lượng gì để áp đặt dân tộc này phải làm như họ muốn? Và cái dân tộc này liệu có nghe theo họ không?. Riêng tôi, tôi cũng cũng chẳng theo họ. Thà chờ đợi cái hệ thống hiện nay nó chuyển biến từng bước, nhưng là những bước tiến lên với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Gần đây có thể thấy rõ một số lĩnh vực đã khởi sắc, đáng mừng. Và với tốc độ như thế thì tôi nghĩ rằng có lẽ chúng ta cũng không thể đòi hỏi thêm được. Chúng ta hãy chấp nhận.

Và trong giai đoạn sắp tới thì ông nghĩ là điều gì quan trọng hơn? Sức ép đòi hỏi có bước đi mạnh hơn từ bên trong hay sự thúc ép từ bên ngoài qua sự tham gia của VN vào nền kinh tế thế giới như Tổ chức Thương mại Thế giới?

Thực ra thì cũng không nên phân biệt cái gì là bên ngoài, cái gì là bên trong. Sức ép ở bên ngoài chỉ có ý nghĩa khi nó tạo ra lợi ích ở bên trong. Sức ép ở bên ngoài sẽ thông qua lợi ích ở bên trong buộc những xí nghiệp, những địa phương, những ngành phải chuyển đổi vì lợi ích của chính mình. Đó là tác dụng tích cực của sức ép từ bên ngoài. Ở bên trong điều đang ngại ngần nhất là những quyền lực cũ vẫn còn rơi rớt ở đây đó, cả ở cấp cao nhất tới cấp thấp nhất. Cái quyền lực đó đang là trở ngại cho sự phát triển và chuyển đổi. Rất nhiều cơ sở, rất nhiều lĩnh vực người ta chỉ chấp nhận sự chuyển đổi với điều kiện nó không vi phạm lợi ích của người ta.

Cái con đường để đổi mới tiếp tục là làm sao tạo ra cho cái quyền lực đó nó có lợi ích trong sự đổi mới tiếp tục. Đó là bài toán.

Cái vấn đề hiện nay người ta nói tới nhiều nhất, tôi nghĩ đó là vấn đề tham nhũng. Và một trong những điều người ta phàn nàn là người ta không ngại các quan chức chính phủ có vấn đề tư túi, này kia nhưng trong cái tham nhũng đó phải đẻ ra được những lợi ích, phải làm được những công việc xứng đáng, và điều này đang gây bức xúc. Theo ông, những gì đã tuyên bố, đã thực hiện cho tới nay có giải quyết được tham nhũng không?

Trước hết phải nói rằng những gì đã làm cho tới nay là rất tốt, là đáng khen nhưng chưa đủ. Cách đây 5 năm, 10 năm chắc không thể mơ ước có chuyện đưa một ông thứ trưởng, một ông bộ trưởng ra trước quốc hội, trên báo chí vì những chuyện dây dưa vào tham nhũng, đưa một ông tướng công an lên báo chí, bây giờ việc đó người ta đã làm được. Đó là một bước tiến rất lớn nhưng chưa cơ bản. Để chống tham nhũng phải làm thế nào cái lợi ích và tham nhũng ngược chiều với nhau.

Hiện nay trong nhiều lĩnh vực, lợi ích và tham nhũng thuận chiều. Làm thế thế nào để chúng ngược chiều, do pháp luật và do lương tâm nữa chứ. Đừng nghĩ rằng chỉ dùng pháp luật mà giải quyết được chống tham nhũng. Thời Hồ Chí Minh pháp luật rất sơ sài mà có tham nhũng đâu. Mà thời đó thiếu đói hơn rất nhiều. Có một vấn đề nữa đó là lương tâm. Lương tâm xã hội, lương tâm thời đại đang xuống cấp. Hiện nay xã hội chú ý quá nhiều về mặt pháp luật. Đúng, pháp luật và thể chế là rất cần thiết. Không thể có một quốc gia mà không có pháp luật nhưng cũng không thể có một xã hội mà không có lương tâm. Cái lương tri của xã hội là một khía cạnh rất quan trọng để hướng con người ta đi vào cái thiện. Cái này hiện ở Việt Nam rất yếu.

Trước đây thì nó quá mạnh. Thời kháng chiến chống Pháp, có ai nghĩ tới tham nhũng đâu. Lương tâm rất mạnh. Lương tâm có thể đưa con người vào trước lỗ châu mai, đâm vào xe tăng địch được thì làm sao phải tham nhũng.

Nhưng cái lương tâm đó cũng đừng có quy từng con người một họ có lỗi. Lương tâm đó đã bị một thời kỳ rất dài những thứ đạo đức giả, những thứ khẩu hiệu huyênh hoang làm người ta đổ vỡ về mặt lương tâm, người ta không tin vào cái gì nữa. Nhưng cũng đừng cho người ta làm người ta đổ vỡ về mặt lương tâm, người ta không tin vào cái gì nữa. Và bây giờ phải khôi phục lại. Và cũng đáng mừng là xã hội đang phục hồi. Chẳng hạn trong giáo dục, ý kiến rất nhiều và ý đó đang ngày càng mạnh lên là lương tâm, lương tâm và lương tâm. Đến một ngày nào đó lương tâm sẽ đè bẹp những lợi ích bẩn thỉu. Tôi chắc là điều ấy có thể xảy ra và phải chú ý tới điều ấy.

Quý vị có ý kiến gì về bài phỏng vấn này xin gửi về địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk hoặc dùng hộp tiện ích bên tay phải.

-------------------------------------------------

Minh, HCMC, Việt nam
Việt nam hiện giờ vẫn đang tiếp tục bỏ lỡ cơ hội đấy chứ. Các chính sách không giống ai như cấp giấy sử dụng đất đai, hóa đơn tài chính v.v. đang khiến Việt Nam một lần nữa làm nhà đầu tư và người dân ngán ngẩm ... Căn bệnh trầm kha của chúng ta là bệnh hình thức, thích được khen hơn là nhìn vào thực chất vấn đề.

Sinh viên du học
Cũng như một số bạn trên diễn đàn, tôi không đồng tình với giáo sư Đặng Phong về một số điểm, cụ thể là vấn đề VN bắt tay với Mỹ năm 1945 và ông Diệm đáng lẽ phải tổng tuyển cử năm 1954.

Nhớ lại lịch sử thì năm 1945, khi trục phát xít Đức Nhật bị đánh bại cũng là lúc thế giới được các nước lớn (cụ thể là Mỹ và LX) phân chia theo hai phe Đông-Tây cộng sản và tư bản. Số phận nhiều dân tộc lúc bấy giờ nói trắng phớ ra là phụ thuộc vào sự nhanh chân của lính Mỹ hay lính LX. Ông LX nhanh chân hơn, chạy ngay tới Ba Lan, Czech, Hungary, Nam Tư ... thế là vùng này biến thành những nước XHCN. Ông Áo nằm ngay cạnh đấy, nhưng may vì có Mỹ tới trước nên thành nước tư bản. Ngày nay tuy Czech, Ba Lan, Hungary là những nước khá nhất về kinh tế trong khối Đông Âu XHCN cũ nhưng so với nước Áo cứ gọi là một trời một vực. Đó là những nước mà Mỹ hay LX vào trọn, còn với những nước mà lính hai bên gặp nhau ngay trên lãnh thổ thì các quốc gia ấy phải chia đôi, ví dụ rõ ràng nhất chính là Đức và Triều Tiên.

Tình cảnh VN cũng tương tự hai nước này, trở thành cái nút giành giật giữa hai phe XHCN và tư bản. Hãy nhớ lại thời điểm nhạy cảm phân chia thế giới theo ý thức hệ 1945. Cụ Hồ là ai? Cụ Hồ chính là người cộng sản đệ tam, làm sao người Mỹ không biết điều đó? Bởi vậy khả năng người Mỹ giang tay ra với một người cộng sản ở thời điểm ấy là số 0 tròn trĩnh. Họ chọn phương án giống như ở Đức và Triều Tiên, dùng phần còn lại trong lãnh thổ VN làm vùng không cộng sản, chống lại sự lây lan của chủ nghĩa CS.

Thực tế những năm sau 1945, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ đã rã đám. Lý do là sau hàng trăm năm bốc lột tài nguyên, giới thực dân nhận thấy nguồn lợi mà thuộc địa thu lại từ các thuộc địa đã không bù đắp nổi chi phí họ bỏ ra xây dựng và chi tiêu cho hệ thống công quyền ở chính bản địa. Ngay ở VN ta cũng dễ dàng nhận ra điều đó, Pháp không chỉ có một tay bốc lột mà họ cũng phải xây dựng cầu cống đường sá đô thị trường học và trả lương cho hệ thống viên chức thuộc địa. Sau 1945, các đế quốc già như Anh, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha đã phải bỏ các thuộc địa mà chạy. Pháp sau 1945 thì kiệt quệ, phải nhờ Mỹ chi tới 80% chi phí mới gắng gượng ở VN, nếu không có tiền của Mỹ, Pháp sức đâu mà đánh nhau với VN ở Điện Biên Phủ?

Nói như vậy để biết thực tế người Mỹ đã có ý định ở nước ta từ những năm 1945. Sau 1945, cụ Hồ càng chứng tỏ mình là người cộng sản bằng các chính sách đặc trưng cộng sản như cải cách ruộng đất 1953-1956. Cuộc chiến Triều Tiên 1950-1953 cũng kết thúc và hai phe cộng sản - tư bản ghìm chân nhau bên bờ Áp Lục. Đối với Mỹ, kịch bản đó là lạc quan và họ thêm ý chí đạo diễn nó ở VN như đã làm với Đức và Triều Tiên. Ông Diệm được người Mỹ chọn để thực hiện ý đồ trên của Mỹ. Người Mỹ có chọn ông Diệm để làm tổng tuyển cử đâu.

Nếu ông Diệm muốn tổng tuyển cử năm 1954 thì có lẽ ông đã bị Mỹ giết ngay từ lúc ấy chứ đâu đợi đến năm 1963? Chung quy lại nên trách cái chủ nghĩa cộng sản. Mà ai đem chủ nghĩa CS vào nước ta thì mọi người biết rồi. Cũng chỉ mong cho chất cộng sản ở nước ta ngày một mờ nhạt đi thì may ra ta mới khá nổi. Nhưng các bác cứ yên tâm, độ 3 chục năm nữa thế hệ 8x bọn em lên nắm quyền thì mọi chuyện thế nào cũng tốt hơn nhiều lần.

Tran Thanh, TP HCM, Việt nam
Tôi rất khâm phục về cái nhìn nhận, đánh giá sắc xảo về lịch sử của giáo sư Phong. Tôi thích GS Phong hơn vì GS Phong khá thẳng thắng, không sợ mích lòng các vị lãnh đạo cộng sản khi trả lời phỏng vấn.

Tuy nhiên điều tôi băn khoăn và tiếc nuối là trong khoản thời gian ấy, GS Phong với tư cách là nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam, vai trò của GS ở đâu khi nói về sự vụt mất những cơ hội vàng để đất nước phát triển mạnh lê. Xin lỗi GS, phải chăng GS không dám nói lên những điều chưa tốt lúc đó vì sợ các vị lãnh đạo lúc bấy giờ hay vì nguyên nhân nào khác. Tuy nhiên công tâm mà nói, nếu nhắc đến Đổi Mới ở Việt Nam mà không nhắc đến GS Nguyễn Xuân Oánh-người được Nhật Hoàng và hai trường đại học lớn của Mỹ trao tặng 3 huân! chương vì có những đóng góp tích cực cho chính sách Đổi Mới ở Việt Nam là một thiếu sót lớn. GS Oánh đã dám nói lên điều chưa đúng và dũng cảm mạnh dạn đề nghị chính sách Đổi Mới ở Việt Nam.

Nhờ có chính sách Đổi Mới của Đảng (mà chính xác hơn, GS Oánh là cha đẻ của chính sách này), chúng tôi đã tốt đẹp hơn trước rất nhiều. Nhân dân Việt Nam sẽ biết ơn GS Oánh và lịch sử cũng sẽ nhắc đến tên ông. Tôi tin rằng thế hệ chúng tôi, và thế hệ tiếp nối cũng noi gương ông Oánh, nói lên những đều cần nói, để đất nước tốt đẹp hơn chứ không theo gương GS Phong im lặng để rồi phô trương kiến thức khi có cơ hội, mà cuối cùng chẳng giải quyết được vấn đề gì.

Hoàng Thi
Phải công nhận rằng “trong thời chiến”, cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, người CSVN đánh giặc rất kiên cường và bất khuất. Chỉ cần có các loại vũ khí trang bị trong tay như AK- CKC- B40 - B41 thì họ sẽ chiến thắng bất cứ kẽ thù nào một cách dễ dàng. Trong thời bình (xây dựng KT), nếu người CSVN có trong tay một nền “khoa học, kỹ thuật” tiên tiến, có hùng hậu một lực lượng các chất xám tương tự như trong thời chiến (có AK–CKC…) thì hay biết mấy. Nhưng khổ nỗi là họ không tài nào để có được những thứ ấy. Dù cho 20 năm hay 50 năm sau VN vẫn là một nước sản xuất Nông nghiệp, vẫn còn phải phụ thuộc rất nhiều và rất nhiều vào các nước có nền kỹ nghệ tiên tiến.

Tran Minh Duc, Springfield, Hoa kỳ
Theo tôi nghĩ, Giáo sư Đặng Phong viết bài này không có nhận xét nào sâu xa và ý kiên mới lạ cả. Có khi gần như là lời nói có tính cách tuyên truyền cho chế độ. Có cái nhìn của một cán bộ Cộng sản hơn là nhà nghiên cứu khách quan và vô tư. Giáo sư Đặng Phong có nhắc sụe kiện về sự từ chối hợp tác của ông Ngô Đình Diệm là mất cơ hội cho một cuộc Đổi mới. Thật ra nhận xét đó có thiếu sót nhiều về chế độ miền Nam nói chung và ông Diệm nói riêng.

Theo tôi nghĩ, lúc đó ông Diệm cầm quyền ở Miền Nam và ông Hồ Chí Minh lãnh đạo ở miền Bắc, miền Nam có lẽ phồn thịnh và tự do hơn ở Miền Bắc dưới chế độ cộng sản nhiều. Xin Giáo sư Đặng Phong hãy nói tới một cơ hội khác, nếu Miền Bắn tiến chiếm miền Nam. Họ quên đi những thù hằn, và không đưa những người quân nhân hay những người cán bộ Quốc gia đi cải tạo, thì họ mới chính là thành phần trí thức hay chất xám để xây dựng đất nước.

Minh Nam, Việt nam
Chúng ta bàn luận khi thiếu thông tin, khi thông tin thiếu minh bạch, bị che dấu. Vậy, làm sao có thể chính xác? Lịch sử do người chiến thắng viết ra. Các bạn hãy vượt mọi bưng bít để biết sự thật rồi hãy bàn.

Hoang Tran, Los Angeles, Hoa kỳ
Bài phỏng vấn của GS Đặng Phong rất hay. Có một điểm tôi không đồng ý với GS Đặng Phong. Ông ta nói là Mỹ đã bỏ cơ hội vàng khi Chủ tịch HCM viết thư gởi cho chính phủ Mỹ để xin cho 50 người sang Mỹ để học tập. Vào thời điểm đó chính quyền Mỹ chủ trương là chống cộng sản vì lý do đó mà Hoa kỳ đã làm ngơ đi nhưng yêu cầu của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Song Hong, HCMC, Việt nam
Tôi nghĩ rằng Nếu sau 1945 Chúng ta không theo chủ nghĩa Cộng sản, theo đường lối dân tộc chủ nghĩa như các nước ở Châu Á thì mọi cái đã khác rồi sẽ không có 9 năm kháng chiến, không có cải cách ruộng đất...không có địa chủ oan gia....cũng không có 20 năm chiến tranh 1954-1975 Huynh đệ tương tàn....Và Việt nam sẽ như Singapore bây giờ.

Tung, Cần Thơ
Có nhiều người nhắc đến sự lựa chọn của HCM hay TƯ đảng mà không biết nó thuộc...bí mật quốc gia. Bất cứ ai vô tình hay cố ý "tiết lộ bí mật quốc gia" thì kể như...toi! Thật sự, thưa các bạn, các ổng cũng phải cân-đong-đo-đếm rồi mới chọn từ-từ-từng-bước-một. Tất nhiên con cháu, lịch sử ĐƯỢC quyền phán xét. Theo tôi, hơn 90% dân số VN hiểu không đúng ý của HCM qua Tuyên Ngôn Độc Lập (có thể do muốn hiểu sai đi!). Câu đầu tiên (trong BTNĐL) là gì vậy các bạn? Đừng hiểu theo cách thầy cô của chúng ta đã dạy thì các bạn đã hiểu HCM rồi đấy! Chọn lựa là...chọn lựa, hiển nhiên rồi, vậy sẽ có đúng, có sai. Quan trọng chúng ta ứng xử như thế nào; GS Phong, chừng mực nào đó, cũng cho thấy sự ứng xử của những người CS Việt Nam và chúng ta ứng xử như thế nào qua những ứng xử của những người đó? Xin quý anh/chị tiếp tục nhé.

Một ý kiến
Theo tôi chúng ta nên tự trách mình thì hơn. Nếu ta không theo đường lối cộng sản thì kiểu gì mà người Mỹ không chơi với ta ngay từ đầu, thậm chí đã không bỏ ra 20 năm đánh nhau mẻ đầu sứt trán. Mỹ nó nhảy vào miền Nam để chống lại sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản về phương Nam, toả sang các nước xung quanh ta vốn theo tư bản như Thái, Sing, Indo ... chứ có phải để chiếm đất đai của ta đâu. Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ chết từ năm 1954 rồi.

Trung Dung, Quy Nhơn
Trong nửa cuối của thế kỷ XX lịch sử đã chọn Việt Nam thử thách các học thuyết CNXH-CNTB, sự can đảm và yếu hèn, sự sáng suốt và u tối. Tôi cũng từng rất tự hào vì Việt Nam đã không khuất phục trước vũ lực nhưng cũng rất đắng cay vì các sai lầm mà những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đã làm để đồng bào của họ sống trong lam lũ. Chiến tranh đã lùi xa 30 năm, thời gian đủ để hình thành một thế hệ Việt Nam mới, mong muốn của những người trẻ tuổi hiện nay là được giáo dục một cách toàn diện hơn để họ chung vai gánh vác đất nước.

QT, Saudi Arabia
Về ý kiến của giáo sư Đặng Phong và một số người khác cho rằng Mỹ và Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội vàng năm 1944-1945 để bắt tay với nhau, tôi rằng không phải: Về bản chất người Mỹ là những con người thực dụng, việc hợp tác giữa họ và Việt Minh để chống Nhật chỉ là sách lược giai đoạn, bản chất Hồ Chí Minh là người cộng sản và ông đại diện cho những người cộng sản có thực quyền, do vậy trong bối cảnh chiến tranh lạnh quyết liệt sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thì cơ hội đó sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực. Nhìn sang Trung Hoa năm 1945-1946 Mao Trạch Đông dù ở vị thế mạnh hơn Hồ Chí Minh rất nhiều, rất muốn thiết lập quan hệ với Mỹ nhưng cũng không được.

Nguyen Thu, Vancouver, Canada
Tôi thiết nghĩ, Việt nam đừng mong chờ nơi người Việt hải ngoại nữa. Sau hơn 30 năm chúng tôi và con cháu đã trở thành người bản xứ nơi chúng tôi đang sống . Vấn đề trở về quê hương có lẽ "không bao giờ" , mồ mả cha mẹ anh em chúng tôi nơi đây, con cháu chúng tôi đã hòa nhập với người bản xứ ... vế lại Việt Nam, chúng tôi sống với ai đây ? bây giờ "xứ mình là xứ người, xứ người là xứ mình" Một thật tế phủ phàng cho đất nước việt nam, có lẻ là không bao giờ đất nước đó đạt được ước nguyện tương lai như mọi người mong muốn.

Nguyen, Seattle
Theo tôi mặc dù giáo sư Đặng Phong nhìn được những sai lầm về kinh tế và chính trị sau 1975, nhưng ông ta thất bại trong chỉ điểm ra những nguyên nhân cốt lõi tại sao giới lảnh đạo VN đã và đang làm tình hình kinh tế và chính trị diễn ra vô cùng chậm chạp mặc dù chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm. Tôi nghĩ rằng nếu ông ta được sống trong những nước dân chủ và giàu mạnh như Nhật, Anh hay Mỹ trong khoảng một hay hai năm, thì ông ta có thể sẽ có lối suy nghĩ thoáng và táo bạo hơn.

Thế giới ngày nay với thời đại thông tin minh bạch và nhanh chóng. Việt Nam không thể vẫn còn thể chế chính trị của thế kỷ trước mà đuổi kịp với sự phát triển của thế giới. Cơ bản ra là VN cần phải có một nền chính trị cạnh tranh để những người tài có cơ hội guíp nhiều cho đất nước hơn, Hiện nay phần đông những người làm chính trị ở VN là vì quyền lợi cho bản thân và họ hàng chớ không phải vì cho đại đa số. Và với chính thể độc đảng hiện tại thì người cộng sản không cần phải làm hết khả năng mà vẫn được tại chức trong tương lai. Tôi rất mừng là VN được vào WTO. Đây cũng là lúc VN bắt buộc phải thay đổi tư duy mới cho lẹ làng, minh bạch và công bằng hơn.


 
 
Tên
Họ*
Thành phố
Nước
Điện thư
Điện thoại*
* không bắt buộc
Ý kiến
 
  
BBC có thể biên tập lại thư mà vẫn giữ đúng nội dung ý kiến và không bảo đảm đăng mọi thư gửi về.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Nhìn lại 20 năm Đổi Mới
05 Tháng 11, 2006 | Nghe các tạp chí
Việt Nam sau hai thập niên Đổi Mới
14 Tháng 12, 2006 | Việt Nam
"Tất yếu của chiến tranh"
09 Tháng 9, 2006 | Nghe các tạp chí
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân