Skip to main contentAccess keys helpA-Z index
BBCVietnamese.com
chinese
russian
french
Other Languages
 
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
Hệ quả chiến lược Brzezinski đối với VN
 

 
 
Zbigniew Brzezinski
Zbigniew Brzezinski có ảnh hưởng lớn về chính sách của Mỹ thập niên 1970
Tháng Năm này đánh dấu 30 năm ngày diễn ra chuyến thăm Trung Quốc của Zbigniew Brzezinski (từ 20 đến 23 tháng Năm 1978).

Năm 1978 – 79, khi Mỹ - Trung chủ động tiến gần đến nhau, có thể nói hai chính khách quan trọng nhất trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung là Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh cho tổng thống Mỹ và Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng Trung Quốc.

Vai trò cố vấn chiến lược

Hai trong số những nhà chiến lược ngoại giao lừng lẫy nhất của Mỹ, Henry Kissinger và Zbigniew Brzezinski, vừa có nhiều nét tương tự nhưng cũng là đối thủ của nhau. Cả hai cùng là di dân – gia đình Kissinger đến New York từ Đức năm 1938 để trốn phát xít Đức; gia đình Brzezinski không về được Ba Lan vì chế độ cộng sản. Cả hai cùng lấy bằng tiến sĩ ở khoa chính quyền học của Harvard. Kissinger sau đó trở thành giáo sư ở Harvard, còn Brzezinski đi dạy ở Đại học Columbia. Gần như cùng lúc, hai người bước vào chính trường.

Thời gian đầu khi lên làm tổng thống, Jimmy Carter muốn lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội

Năm 1968, Brzezinski làm cố vấn đối ngoại cho Phó Tổng thống đảng Dân chủ Hubert Humphrey, người ra tranh cử tổng thống nhưng thua trước Richard Nixon. Trong khi Kissinger được Nixon bổ nhiệm làm cố vấn an ninh, Brzezinski bay đi châu Á, nghiền ngẫm về chiến lược liên thủ giữa Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Dòng suy nghĩ này đưa ông tham gia sáng lập Ủy ban Ba bên (Trilateral Commission) năm 1973, và qua đó làm thân với người sẽ trở thành tổng thống, Jimmy Carter.

Nếu như chiến lược détente (hòa hoãn) của Kissinger đặt quan hệ Mỹ - Xô và Mỹ - Trung ngang nhau, thì Brzezinski, khi trở thành cố vấn an ninh của Tổng thống Carter, lại chọn chiến lược công khai liên minh với một trong hai cường quốc cộng sản, buộc kẻ còn lại rơi vào sự cô lập. Ảnh hưởng ngày càng tăng của ông cố vấn, cùng với những tính toán của Bắc Kinh, là yếu tố quan trọng khiến sự tái lập quan hệ Mỹ - Việt trở thành bất khả.

Khi Jimmy Carter trở thành chủ nhân Tòa Bạch Ốc, việc phục hồi quan hệ với Việt Nam được ông xem là một phần của quá trình hàn gắn vết thương cho nước Mỹ. 10 ngày sau khi nhậm chức tổng thống, Carter gặp Ủy ban Quốc hội về người Mất tích ở Đông Nam Á (Ủy ban Montgomery) và lặp lại lời hứa khi tranh cử là sẽ gửi phái đoàn đến Việt Nam để bàn vấn đề MIA. Khác với người tiền nhiệm Gerald Ford, Carter chỉ thị không đặt MIA làm điều kiện tiên quyết cho đàm phán.

Vấn đề tái lập quan hệ chính thức với Trung Quốc dĩ nhiên cũng nằm trên bàn nghị sự của tổng thống. Nhưng Carter chỉ trích nặng nề lập trường của Nixon – Kissinger đối với Trung Quốc: “Chúng ta không nên bợ đỡ họ như cách Nixon và Kissinger đã làm.” Ban đầu, Carter nghe theo đề nghị của Ngoại trưởng Cyrus Vance, là bình thường hóa quan hệ với cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Trong khi đó, đứng trên lập trường chống Liên Xô của một người Mỹ gốc Ba Lan, Brzezinski ngả về phía Trung Quốc để lên án cả Moscow và Hà Nội. Sang năm 1978, khi ảnh hưởng của Brzezinski ngày càng mạnh, Việt Nam trở thành lá bài để Mỹ lung lạc mâu thuẫn Xô – Trung.

Brzezinski lên đường Hoa du

Trong một buổi tiệc tháng 11-1977, phía Trung Quốc hỏi Brzezinski là ông có ý định thăm nước này hay không. Brzezinski rút sổ tay và đề nghị người đối diện “đặt ngày”. Ngay sau đó, viên cố vấn lại viết thư cho sứ quán Trung Quốc ở Washington, nhắc lại lần nữa mong muốn viếng thăm. Biết tin này, Ngoại trưởng Vance phản đối, như lời kể của Carter trong hồi ký:

“Bộ trưởng Vance khăng khăng nói mọi đàm phán phải được thực hiện qua ông ấy. Tôi đoán người ở Bộ Ngoại giao vẫn khó chịu với việc Ngoại trưởng William Rogers bị ngó lơ khi Henry Kissinger, trong cương vị Cố vấn An ninh Quốc gia của Nixon, đóng vai trò quan trọng để chuẩn bị cho chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống và thương thảo tuyên bố chung Thượng Hải.”

Brzezinski đã chọn nước cờ là đi thăm Bắc Kinh trong lúc Vance đang ở Moscow, làm vị ngoại trưởng bó tay. Trước mặt chủ nhà trong buổi tiếp tân ngày 22 tháng Năm, Brzezinski khẳng khái: “Tổng thống…quyết tâm hợp tác với các bạn để vượt qua những trở ngại còn lại trên con đường bình thường hóa hoàn toàn. Hoa Kỳ đã có quyết định về vấn đề này.” Phái đoàn Mỹ cung cấp luôn thông tin tình báo về các đợt chuyển quân của Liên Xô dọc đường biên giới Xô – Trung.

Trên đường quay về, Brzezinski tự ý dừng lại ở Tokyo mà không hỏi trước ý kiến tổng thống. Như một món quà nữa dành cho bằng hữu mới quen, Brzezinski thúc Nhật ký hiệp ước hòa bình và hữu nghị với Trung Quốc – hiệp ước sau đó được ký vào tháng Tám.

Chuyến thăm thành công của Brzezinski tạo nên những thay đổi nền tảng trong chính sách của chính quyền Carter. Nó diễn ra vào lúc mâu thuẫn Việt – Trung sôi sục vì cuộc khủng hoảng Hoa kiều và vì chính thể Khmer Đỏ ở Campuchia. Với lập trường chống Liên Xô, Brzezinski, ngay từ đầu năm 1978, đã xem xung đột Việt Nam – Campuchia là một “cuộc chiến ủy nhiệm giữa Trung Quốc và Liên Xô.” Quan điểm này dần dần chi phối Nhà Trắng để rồi quanh câu hỏi làm thân với Hà Nội, Brzezinski “liên tục nói với tổng thống là một hành động như thế sẽ bị Trung Quốc diễn giải là động thái ‘thân Xô, chống Trung.”

Brzezinski nghĩ gì về cuộc họp với Nguyễn Cơ Thạch?

Ngày 29 tháng Sáu 1978, Việt Nam là nước châu Á thứ hai, sau Mông Cổ, gia nhập COMECON (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước thuộc hệ thống XHCN). Đây là bước đầu tiên trong một loạt diễn biến ngoại giao đưa Hà Nội đến gần hơn với Moscow.

Sang tháng Bảy, Trung Quốc chấm dứt toàn bộ mọi dự án tại Việt Nam. Việt Nam đề nghị với Mỹ có thêm cuộc họp ở Paris trong tháng Tám để bàn về khả năng khôi phục quan hệ, nhưng Mỹ từ chối, nói rằng hai bên có thể gặp kín trong tháng Chín khi đoàn Việt Nam đến New York dự họp của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Trong cuộc họp đó, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cuối cùng đã nói Việt Nam sẵn sàng bình thường hóa quan hệ vô điều kiện. Nhưng với tiến triển trong đàm phán bình thường hóa Mỹ - Trung, vấn đề Việt Nam không còn là ưu tiên cho chính quyền Carter. Vấn đề thuyền nhân và tin tức tình báo về khả năng Việt Nam sắp tấn công Campuchia cũng cho thấy đây không phải là lúc để Mỹ cải thiện quan hệ với nước cựu thù.

Sau ngày họp thứ hai với Nguyễn Cơ Thạch, chuyên gia Trung Quốc của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, Michel Oksenberg, gửi báo cáo cho Brzezinski: “Ta có thể cảm thấy thế yếu của Việt Nam trong các cuộc thảo luận. Những khó khăn kinh tế, xung đột với Campuchia và căng thẳng với Trung Quốc đặt họ vào vị trí rất bất lợi.” Trong lúc khả năng tấn công Campuchia là khó tránh khỏi, có vẻ Việt Nam rất muốn sớm bình thường quan hệ với Mỹ, và đồng thời dùng cuộc thương thảo với Mỹ để có thêm những nhượng bộ từ Moscow.

Ngoại trưởng Vance gửi một báo cáo cho Tổng thống Carter, đề nghị rằng sau cuộc bầu cử quốc hội, Washington cần đi theo lộ trình bình thường hóa quan hệ với Hà Nội. Trước khi báo cáo đến tay Carter, theo thông lệ, nó phải được Brzezinski duyệt. Viên cố vấn có bút phê vào bản phúc trình rằng không nên có bước đi nào cho đến khi đã lập được quan hệ với Bắc Kinh.

Zbigniew Brzezinski
Sinh ngày 28.03.1928 ở Varsava
Con một nhà ngoại giao Ba Lan
Sang Canada năm 1938
Giáo sư ĐH Johns Hopkins
Sách: Soviet Block: Unity and Conflict-1967
The Grand Chessboard -1997

Sau này, Brzezinski thổ lộ với nhà báo Nayan Chanda: “Tôi cho rằng Holbrooke đến đó (gặp phái đoàn Việt Nam tại New York) để chứng tỏ rằng họ muốn làm cho việc quan hệ bình thường thêm được dễ dàng, và tôi đã bắn rơi đề nghị đó.” Đáng chú ý, lúc này Bộ Ngoại giao Mỹ cũng nhận được thông điệp giận dữ từ Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa về cuộc thương lượng Việt – Mỹ.

Một cuộc gặp riêng giữa Tổng thống Carter với Brzezinski và Leonard Woodcock diễn ra trong tháng Mười 1978. Chính Brzezinski yêu cầu không cho Ngoại trưởng Vance tham dự cuộc họp. Theo hồi ký của Brzezinski, khi Carter hỏi về vấn đề hòa giải với Hà Nội, cả hai cố vấn đều nói chuyện này chỉ gây nguy hiểm cho cuộc thương lượng với Trung Quốc. Bản thân Woodcock, người từng dẫn đầu phái đoàn sang Việt Nam và ủng hộ quan hệ với Hà Nội, nay đã thay đổi thay độ. Kết quả là Carter quyết định đặt Trung Quốc thành ưu tiên.

Đặng tranh thủ quan hệ với Mỹ

Mỹ và Trung Quốc chính thức phục hồi quan hệ ngoại giao vào ngày đầu tiên của năm 1979. Một tuần sau, quân đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh. Khả năng bình thường hóa quan hệ với Mỹ nay được đặt ra với điều kiện Hà Nội rút toàn bộ quân đội ra khỏi Campuchia.

Đặng Tiểu Bình năm 1978
Đặng Tiểu Bình là lãnh đạo cao cấp đầu tiên của Trung Quốc thăm Mỹ năm 1979

Việc Trung Quốc “dạy cho Việt Nam một bài học” chỉ còn là vấn đề thời gian. Chuyến thăm Washington của Đặng Tiểu Bình vừa để thắt chặt mối quan hệ song phương vừa tái tục, và cũng để thăm dò phản ứng của chính quyền Carter về khả năng Trung Quốc tấn công Việt Nam.

Tổng thống Carter chính thức đón tiếp Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình tại thảm cỏ trước Tòa Bạch Ốc sáng ngày 29 tháng Giêng 1979. Nhưng thực ra, vào tối hôm trước, chủ nhà đầu tiên tiếp ông Đặng chính là Brzezinski, tại nhà riêng ở tiểu bang Virginia. Brzezinski khui chai rượu do Brezhnev tặng, và làm vị khách thích thú khi họ nâng cốc cho tình bạn Mỹ - Trung bằng món quà từ Moscow.

Trong cuộc gặp riêng với Carter, Brzezinski, Vance và Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown ngày 30 tháng Giêng, Đặng nói rõ Trung Quốc thấy cần phải “kiềm chế tham vọng của người Việt Nam và dạy cho họ bài học hạn chế thích đáng.” Đặng giải thích thêm là bài học này sẽ ngắn về thời gian, nhỏ về quy mô và không nhằm dẫn đến xung đột trực diện giữa Liên Xô và Trung Quốc. Brzezinski lo ngại Tổng thống “có thể bị Vance thuyết phục để gây sức ép tối đa buộc Trung Quốc không dùng vũ lực.”

Sáng hôm sau, Carter đưa cho Đặng lá thư viết tay nói Mỹ không đồng ý Trung Quốc đánh Việt Nam. Sau khi liệt kê chín lý do, Carter kết luận: “Hoa Kỳ không thể ủng hộ hành động này, và tôi mạnh mẽ kêu gọi ngài không thông qua nó.” Tuy vậy, nhiều nhà phân tích xem ngụ ý sâu xa của lá thư chỉ là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp tình hình ở Đông Dương.

Brzezinski viết trong hồi ký: “Tôi cảm thấy đây là cách thức đúng, vì chúng tôi không thể chính thức thông đồng với Trung Quốc để bảo trợ một hành động tương đương với sự gây hấn quân sự.”

Hai ngày sau khi trở về từ chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11 tháng Hai 1979, Đặng ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng Hai. Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên, với khoảng 300.000 quân tham chiến.

Trong lúc chiến sự diễn ra, Brzezinski mỗi buỗi chiều lại gặp đại sứ Trung Quốc Sài Trạch Dân để thông báo hoạt động của quân Liên Xô dọc biên giới Xô – Trung và cho hay những thông tin tình báo vệ tinh khác. Như nhận xét của Cecile Menetrey-Monchau trong cuốn sách gần đây về quan hệ Việt – Mỹ, “dù cuộc xâm lấn được gọi là ‘cuộc chiến của Đặng’ tại Trung Quốc, nó cũng có thể được gọi là ‘cuộc chiến của Brzezinski’ ở Washington, với ý nghĩa là gián tiếp đối đầu với Moscow và thắng thế trước Vance.”

Tóm lại, từ đầu năm 1978 trở đi, cùng với ảnh hưởng gia tăng của Brzezinski, Washington không còn xem Hà Nội là một nước độc lập trong vùng mà là một “Cuba phương Đông”, tiêu biểu cho tham vọng bành trướng của Liên Xô. Lập trường đối ngoại của Brzezinski tìm thấy điểm chung ở ban lãnh đạo Trung Quốc. Thêm một lần nữa, Việt Nam lại trở thành quân cờ trong bàn cờ chiến lược của các siêu cường.

...................................................................................

Tài liệu tham khảo:

Zbigniew Brzezinski, Power and Principle: Memoirs of the National Security Advisor 1977-1981 (1983)

Jimmy Carter, Keeping Faith: Memoirs of a President (1982)

Nayan Chanda, Brother Enemy: The War After the War (1988)

Cecile Menetrey-Monchau, American-Vietnamese Relations in the Wake of War : Diplomacy after the Capture of Saigon, 1975-1979 (2006)

...................................................................................

Hưng
Có nhiều nước nhỏ hơn chúng ta nhưng ho sống rất yên bình trong mối quan hệ với các cường quốc. Xem ra thì vấn đề chính ở đây là chính sách ngoại giao, chứ không phải là nhỏ hay lớn. Nếu mình nhỏ, yếu mà lại luôn nghĩ là mình to, khỏe thì đúng là đại họa.

HT
Một số người đổ thừa VN ta chiến tranh, tục hậu, nghèo khổ là do Mỹ, Tàu, Nga nghe thật buồn cười và trẻ con. Tại sao anh Mỹ, Tàu, Nga không làm cho Thái Lan, Indo, Sing, Malay...tự đánh nhau và nghèo khổ?

Rõ ràng mọi chuyện chủ yếu là do ta, người ngoài chỉ tác động khi bản thân chúng ta đã muốn đánh nhau rồi. Nếu anh em trong một nhà hoà thuận thì đố anh nào có thể xúi cho đánh nhau được.

Nói tóm lại nếu chúng ta bị sai lầm thì chủ yếu là do ta đừng đổ thừa nguyên nhân khách quan, chuyện đổ thừa thì đảng ta hay lắm "thất mùa bởi tại thiên tai, trúng mùa bởi tại đảng at tài tình", "sau năm 1975 thì đảng ta nói mọi tệ nạn xh là do tàn dư xh củ"...điều này chỉ dụ được con nít thôi.

Thắng, Hà Nội
Qua bài này, tôi nhận thấy số phận VN khổ đau vì 2 người Mỹ: một là ông Truman người quyết định tiếp tục bảo vệ quyền lợi thực dân Pháp không bắt tay ông HCM để rồi VN buộc phải đi theo con đường Cộng sản đau khổ và Chiến tranh Việt nam! Và người thứ 2 là một tay Ba Lan, chỉ vì sự căm ghét Sôviết cố hữu, làm hại cả nước VN khổ sở sau chiến tranh chỉ vì VN trót phải đi theo Liên xô (tình huống này cũng chỉ vì do các cường quốc xô đẩy).

Tuy nhiên, chúng ta ngồi bêu riếu nhau làm chi, khi mà, đau lòng thay, nhận thấy rằng, suốt một chiều dài lịch sử, VN luôn là nạn nhân buồn của các toan tính của các nước lớn: Pháp, Mỹ, Tàu, Nga.

Minh Nam
Cha tôi bảo hồi đó VN rất kiêu ngạo khi Mỹ muốn bình thường hóa quan hệ. Thắng trận 1975 rôi cứ như mình là bố thiên hạ.

Các lãnh tụ VN như cụ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng... có những tuyên bố rất trịch thượng. Dân VN nghe trong nhà với nhau rất hả hê, cứ như người tự sướng. Té ra, chọn sai đường, đã gây nội chiến giết hại đồng bào lại còn không biết vị thế của mình trước các cường quốc.

Tôi sinh ra thì Tàu đã cho VN bài học rồi, không chứng kiến, môn Lịch Sử cũng lờ tịt, không nói tới ta chiến đấu anh dũng diệt Tàu ra sao.

Thái Hùng
Thế mới biết câu nói "thâm như Tầu" là như thế nào. Dẫu sao anh Tầu cũng không thể là bạn bè chân thành được. Lịch sử 1000 năm của Việt Nam cũng đã nói lên điều này.

Không nêu tên
Sau 1975 VN đang say men chiến thắng tự cho ta là một cường quốc ngang với Mỹ cho nên tự cho mình xứng đáng làm đại ca trong vùng qua mặt luôn cả ông anh to lớn đang đứng bên cạnh là anh Tàu.

Anh Tàu lúc này xem anh Nga chả ra gì trong khi VN xem anh Nga là đại ca mà xem thường anh Tàu. Chính điều đó VN tấn công Cambot mà chả cần hỏi ý kiến gì anh Tàu. Hành động này như ta thường hay nói là “cầm đèn chạy trước Ô tô” đã làm cho :thứ nhất là anh Tàu “điên tiết” vì anh Tàu tự phong cho mình là đại ca trong vùng này chứ không phải ai khác (VN thì dựa vào anh Nga cũng tưởng bở) thứ hai phe Tư bản cụ thể là anh Mỹ phải ra tay để ngăn chặn bành trướng! của Nga về phía Đông Nam á (anh Nga giao nhiệm vụ cho đàn em VN).

Và thế là sau khi VN xâm chiếm Campuchia, lập tức anh Tàu lấy cớ này để “dạy cho VN một bài học” đây cũng chính là chiến lược ngăn chặn sự tiến công của Nga (Việt Nam) trong vùng này. Cho nên có trách thì trách là tại sao 2 anh em ta (Tàu và VN) lại “mắc mưu” Mỹ để mà “oánh” nhau chí tử.

Một độc giả
Đây là một bài báo bổ ích cho những ai còn mơ hồ về cái gọi là "lý tưởng tự do và dân chủ" học lóm của Phương Tây"! Đề nghị BBC công bố thêm những bài báo liên quan đến cuộc gặp gỡ Nixon-Mao Trạch Đông năm 1972 để minh họa thêm cho câu chuyện vì sao người Mỹ làm ngơ khi Trung Quốc tấn công và chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa năm 1974 do chính quyền Sài gòn thời đó quản lý!

Hồng Anh
Đến bây giờ mới lộ mặt kẻ đã làm Việt Nam tụt hậu gần 20 năm! Giá mà không có ông ta, Việt Nam mình sẽ đỡ đi cuộc chiến vô lý lẽ ra nó không đáng có! Nếu không có cuộc chiến với Trung Quốc, nếu quan hệ bình thường ngay với nước Mỹ những năm sau 75 chắc Việt Nam sẽ đỡ khổ hơn nhiều!

Thanh Trúc, Hà Nội
Cám ơn cả ba cường quốc đã dạy cho chúng tôi những bài học quý giá. Từ đây có thể thấy rõ các quan chức của chính quyền văn minh dân chủ cũng dùng ảnh hưởng của địa vị vào các tư thù cá nhân.

Con cháu chúng tôi sẽ tim ra phương cách tốt nhất để cám ơn họ. Chúng tôi là đất nước nhỏ, chúng tôi cần có những phương sách khác để tiếp thu các bài học từ những người nhân từ và thông thái như các ngài.

Phong
Cảm ơn BBC, tôi mong BBC có nhiều bài viết tương tự. Và có nhiều người Việt đọc bài viết này, để hiểu thêm về đất nước.

 
 
Diễn đàn BBC
Họ tên
Nơi gửi đi
Điện thư
Điện thoại (tùy ý)*
* không bắt buộc
Ý kiến (350 từ)
 
  
BBC có thể biên tập lại thư mà vẫn giữ đúng nội dung ý kiến và không bảo đảm đăng mọi thư gửi về.
 
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Lá thư mật Nixon và quan hệ Việt - Mỹ
11 Tháng 5, 2008 | Việt Nam
Kẻ thù của Liên Xô vẫn khoẻ
28 Tháng 3, 2008 | Thế giới
Trung Quốc tấn công VN xuân 1979
16 Tháng 2, 2007 | Việt Nam
TRANG NGOÀI BBC
BBC không chịu trách nhiệm về nội dung các trang bên ngoài.
TIN MỚI NHẤT
 
 
Gửi trang này cho bè bạn   Bản để in ra
 
   
 
BBC Copyright Logo ^^ Trở lại đầu
 
  Trang chủ| Thế giới | Việt Nam | Diễn đàn | Bóng đá |Văn hóa | Trang ảnh |
Chuyên đề| Learning English
 
  BBC News >> | BBC Sport >> | BBC Weather >> | BBC World Service >> | BBC Languages >>
 
  Ban Việt ngữ | Liên lạc | Giúp đỡ | Nguyên tắc thông tin cá nhân