Việt Nam cần cải cách thể chế đầu tư nước ngoài ra sao?

Công ty TNHH Ford Việt Nam Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Hãng xe Ford của Mỹ đầu tư xây dựng nhà máy Sản xuất và Lắp ráp ô tô của Công ty TNHH Ford Việt Nam, đi vào hoạt động từ tháng 11/1997

Việt Nam đang dần hoàn thiện thể chế cho đầu tư nước ngoài (ĐTNN).

Đề án "Định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài đến năm 2030" đang trong quá trình xây dựng.

Khi thảo luận có nhiều ý kiến bày tỏ hy vọng Đề án này sẽ tạo khung khổ cho tầm nhìn, dự báo xu hướng và thể chế hoá nội dung này trước những thay đổi môi trường ĐTNN trong nước và những diễn biến phức tạp và nhanh chóng của thế giới hiện nay ảnh hưởng đến xu hướng ĐTNN.

Tại sao cứ nói “Samsung 100% nước ngoài”?

Vì sao Việt Nam hút đầu tư từ Thái Lan?

Quan chức Anh nói Việt Nam 'dẫn đầu thế kỷ châu Á'

Quan điểm cần 'thay đổi cách tiếp cận' với đầu tư nước ngoài được nhấn mạnh.

Liệu có một thể chế phù hợp với tình hình mới cho ĐTNN?

'Tăng trưởng phụ thuộc vào môi trường đầu tư'

Kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đến nay, tốc độ tăng trưởng trung bình năm của khu vực ĐTNN luôn cao nhất trong các thành phần kinh tế, năm 2017 đạt 12,6%.

Nếu trong giai đoạn 1986-1996, khu vực này chỉ đóng góp 15% thì đến giai đoạn 2010-2017 đã đóng góp 27,7% GDP. Năm 2018, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt xấp xỉ 36 tỷ USD.

Việt Nam coi "đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, là khu vực phát triển năng động, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam".

Vượt qua những ngộ nhận ban đầu về đầu tư nước ngoài do ý thức hệ giáo điều Việt Nam đã ban hành Luật năm 1987, sau đó nhiều cơ chế, chính sách dần được cụ thể hoá nhằm 'trải thảm đỏ' đón các nhà đầu tư nước ngoài.

Các nhà quan sát cho rằng quá trình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã và đang trải qua ba đợt sóng gắn với các thay đổi môi trường đầu tư.

Làn sóng thứ nhất kéo dài trong những năm đầu 1990, trong đó việc thực thi Luật ĐTNN được mở rộng.

Đợt sóng thứ hai bắt đầu từ năm 2005 - thời điểm ban hành Luật Đầu tư chung và bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ.

Đợt sóng thứ ba được cho là bắt đầu từ năm 2014 khi Luật Đầu tư sửa đổi, được đánh giá là hoà nhập hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới, trong đó nhấn mạnh 'đột phá về tư duy' khi doanh nghiệp và nhà đầu tư được làm những gì mà pháp luật không cấm…

Bản quyền hình ảnh AFP
Image caption Ngành công nghiệp đóng giầy Việt Nam cũng thu hút đầu tư của các hãng nước ngoài như Adidas, Nike...

Hiện nay, Việt Nam đã là quốc gia có thu nhập trung bình, cải cách thể chế đang được thúc đẩy bởi chính sách kinh tế thực tiễn hơn, trong đó có việc hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh sự thành công ở trên về ĐTNN vào Việt Nam, những đánh giá đa chiều, 'công bằng' hơn và những 'yếu kém' cũng được thảo luận.

Trước hết, đã có cảnh báo rằng kinh tế của Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào ĐTNN, khi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm hơn 25% GDP và 70% giá trị xuất khẩu, đặc biệt vào một số tập đoàn như Samsung, Formosa…

Thu hút vốn ĐTNN với chất lượng không cao, làm tăng 'dòng nhập siêu', chưa coi trọng đào tạo người lao động và làm mất đi nhiều việc làm truyền thống, gây ô nhiễm môi trường, hạn chế chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý, trốn tránh nghĩa vụ tài chính qua hình thức chuyển giá…

Những vấn đề về kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu, công nghiệp phụ trợ, đầu tư vào nông nghiệp… là những yêu cầu cấp bách được nêu lên.

Ngoài ra, nạn ô nhiễm môi trường như 'sự cố Fomosa' và quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng là những yếu tố cần được tính đến để hoàn thiện chính sách thu hút ĐTNN.

Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh

Trong thảo luận Đề án nêu trên các yêu cầu được nhấn mạnh gồm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ở Việt Nam, thu hút FDI với mục tiêu quan trọng nhất không phải là số lượng vốn thu nhận được mà là hài hòa hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, hài hòa lợi ích của nước chủ nhà với lợi ích của nhà đầu tư.

Thậm chí có đề xuất cần khống chế vốn ĐTNN ở mức 20 - 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

'Yếu tố quốc tế đang tác động mạnh'

ĐTNN là quá trình tương tác hai chiều giữa các quốc gia đầu tư và tiếp nhận. Xây dựng thể chế cho ĐTNN không chỉ chú ý tạo môi trường đầu tư trong nước, mà còn phải tính đến yếu tố nước ngoài, đặc biệt trong trong tình hình thế giới hiện nay biến động phức tạp.

ĐTNN từng được hiểu là 'xuất khẩu tư bản' từ quốc gia thừa vốn, tìm kiếm thị trường vì mục tiêu lợi nhuận thông qua các công ty đa quốc gia sẵn có những lợi thế lớn về vốn, công nghệ và năng lực quản lý sang quốc gia thiếu vốn, nơi không chỉ có sự ổn định chính trị - xã hội, mà còn sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng...

Quyền sở hữu hoặc quản lý tài sản của các nhà đầu tư là những điều kiện tiên quyết.

Quan niệm như trên đang bị lung lay trong bối cảnh 'toàn cầu hoá đang thoái lui và chủ nghĩa bảo hộ đang lên ngôi'.

Sự tương tác giữa quốc gia đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư diễn ra trong bối cảnh xung đột giữa toàn cầu hóa về kinh tế, thể chế chính trị và chủ quyền quốc gia.

Ba nguyên tắc chủ đạo này luôn gây ra sự mất cân bằng với mức độ khác nhau, khiến cho các quốc gia, tuỳ tình hình cụ thể, buộc phải đánh đổi một trong ba nguyên tắc này.

Mỹ và Trung Quốc - hai cường quốc kinh tế nhất, nhì thế giới - là tâm điểm sự chú ý của sự mất cân bằng ba nguyên tắc này trong giai đoạn hiện nay. Việt Nam có mối quan hệ phức tạp nhưng 'gần gũi' với cả hai, do đó, chịu tác động mạnh trong việc cải cách thể chế nói chung và thể chế ĐTNN nói riêng.

Trung Quốc đã thành công với 'cơ hội chiến lược' khi 'lợi dụng' lòng tham, sự 'thực dụng' của các nước tư bản phát triển và các công ty đa quốc gia để tăng trưởng kinh tế, đã lựa chọn hy sinh dân chủ, nhân quyền.

Mỹ coi dân chủ và chủ quyền là thiêng liêng và nước này đang quay lưng với toàn cầu hóa với chính sách "Nước Mỹ trước hết" (America First). Do đó, Mỹ đang dựa vào sức mạnh kinh tế và quân sự, đề cao chủ nghĩa bảo hộ kinh tế, phát động cuộc chiến thương mại với Trung quốc nhằm giành lại quyền kiểm soát địa-kinh tế.

Đối với Việt Nam, làn sóng dịch chuyển ĐTNN từ Trung Quốc do tác động từ cuộc thương chiến Mỹ - Trung còn tuỳ thuộc vào tính toán của các tập đoàn đa quốc gia về lợi thế so sánh và sự 'nhượng bộ' của Trung Quốc trong các vấn đề thương mại, sở hữu trí tuệ và môi trường đầu tư.

Ngày 15/3/2019, Quốc hội Trung Quốc trong phiên bế mạc khóa họp thường niên đã thông qua Luật Đầu tư Nước ngoài sửa đổi liên quan đến một số 'nhượng bộ' nêu trên.

Tuy nhiên, thực tế khiến cho giới quan sát tỏ ra nghi ngờ rằng hoạch định, diễn giải và thực thi chính sách kinh tế luôn có khoảng cách lớn tại các nền kinh tế phi thị trường, trong đó có Trung Quốc.

Việt Nam theo mô hình phát triển Trung Quốc, nhưng đã không tạo ra khác biệt để tận dụng tốt hơn 'cơ hội chiến lược' trong thu hút đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào ĐTNN, ô nhiễm môi trường đến ngưỡng 'báo động đỏ' và đã có sự cố trở thành 'thảm hoạ'...

Việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, tranh chấp với Việt Nam, là tác nhân đẩy Việt Nam 'gần' Mỹ hơn trong bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền đang ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump 'lờ đi' vấn đề nhân quyền, dân chủ trong hai lần đến Việt Nam, nhưng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc rất chú ý đến khía cạnh này khi Việt Nam điều trần trong phiên Kiểm điểm Nhân quyền ở Geneva hôm 11/3/2019.

Thậm chí, Hội đồng Châu Âu đã đưa vấn đề dân chủ, nhân quyền để xem xét việc ký Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và đã có quyết định hoãn phê chuẩn Hiệp định này vào cuối tháng 1 năm 2019 vừa qua.

Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Việt Nam cùng 10 nước thành viên ký kết CPTPP vào tháng 3/2018

Hiệp định Hợp tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), trong đó Việt Nam là một trong 11 thành viên, đã được ký kết, mang đến hy vọng về đầu tư, việc làm… nhưng có nhấn mạnh đến môi trường và quyền lao động, trong đó có quyền tự do liên kết, quyền thương lượng tập thể và loại bỏ lao động cưỡng bức trong ba công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn.

Bởi vậy, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về hệ thống quan hệ lao động sẽ là một nội dung cải cách thể chế đầu tư nước ngoài.

Thể chế cho ĐTNN là một bộ phận của thể chế kinh tế - chính trị.

Cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam là việc lâu dài, khó khăn.

Nhưng hoàn thiện thể chế, chính sách cho đầu tư nước ngoài sẽ là 'cú hích' thúc đẩy cải cách thể chế nói chung.

Chính phủ Việt Nam coi cải cách thể chế là "dư địa lớn cho tăng trưởng kinh tế", trong đó cải cách thể chế ĐTNN sẽ đóng vai trò quan trọng.

Liệu Đề án 'Định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài đến năm 2030' có bao quát những thay đổi để tạo cơ sở chắc chắn cho việc sửa Luật ĐTNN?

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của PGS.TS Phạm Quý Thọ, khoa Nghiên cứu Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam.

Chủ đề liên quan

Tin liên quan